Thursday, July 9, 2009

Những Lắt Léo Trong Luật Quốc Tịch Của VN Với Người Việt Ở Nước Ngoài - Gs Hà Ngọc Cư

* Khi một người Tỵ Nạn Chính Trị xin nhập quốc tịch một nước khác có nghĩa là đã xin bỏ quốc tịch cũ thì không còn liên hệ gì với chế độ cộng sản. Vậy dừng thắc mắc với những âm mưu lắt léo về luật rừng ‘quốc tịch’ của chúng.

Gs Hà Ngọc Cư

Theo thông báo của Bộ Tư Pháp Việt Nam, “Luật Quốc Tịch Việt Nam” kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009 sẽ có hiệu lực thi hành. Theo luật này, người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài “chưa mất quốc tịch Việt Nam phải ‘đăng ký’ với cơ quan đại diện Việt Nam ở nơi định cư để giữ quốc tịch gốc. Thời hạn đăng ký sẽ kéo dài 5 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực.” Vẫn theo Bộ Tư pháp Việt Nam, “việc phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là giải pháp cụ thể để Nhà nước có thể xác định được những ai trong số hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn muốn giữ quốc tịch Việt Nam, qua đó xác định rõ tình trạng quốc tịch của họ, tạo điều kiện để làm tốt công tác quản lý về quốc tịch, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân định cư ở nước ngoài.”

Tuy nhiên, để hiểu rõ điều luật này không phải là việc dễ dàng, vì trong đó có nhiều lắt léo, đặc biệt là với người Việt Nam có quốc tịch Hoa Kỳ. Bài viết dưới đây của Giáo sư Hà Ngọc Cư, hiện là Giám đốc điều hành cơ quan CISS chuyên về di dân và tị nạn tại Houston, Texas, sẽ cho thấy điều đó.

Luật Quốc Tịch mới của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009.

Có hai điều khoản quan trọng có ảnh hưởng lớn đến người Việt định cư ở nước ngoài.

- Người Việt đã có quốc tịch mới muốn giữ quốc tịch Việt Nam (VN) thì phải đăng ký trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày 1 tháng 7, 2009.

- Người nước ngoài khi nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.

Bây giờ xin bàn về những lắt léo của hai điều khoản này.

1. Nếu xin giữ quốc tịch Việt Nam thì hậu quả đối với quốc tịch mới của mình sẽ ra sao?

Vấn đề song tịch thay đổi theo luật lệ của từng quốc gia. Một số quốc gia như Pháp, Mexico, Ba Lan, Nga, Thụy Sĩ, Canada, Anh quốc,… cho phép công dân giữ quốc tịch của họ khi nhập quốc tịch mới. Một số quốc gia khác quy định rằng nếu công dân nhập quốc tịch một quốc gia khác thì đương nhiên mất quốc tịch của họ như Áo, Úc, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hòa Lan, Phi Luật Tân, Trung Hoa…

Riêng trường hợp Hoa Kỳ thì Hiến Pháp Hoa Kỳ không công nhận song tịch mà cũng không cấm song tịch. Trong thực tế nếu khi nhập quốc tịch nước ngoài mà luật pháp nước đó không đòi hỏi mình phải từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ thì bạn vẫn còn quốc tịch Mỹ.

Vấn đề của người Việt đã có quốc tịch Mỹ đối với luật quốc tịch mới của VN là làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam có ‘nguy hiểm’ về quốc tịch Mỹ của mình hay không?

Như đã nói ở trên, nếu trong đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam mà chính phủ Việt Nam không đòi hỏi mình phải bỏ quốc tịch Mỹ thì không đáng ngại. Nhưng ngoài việc xin giữ quốc tịch Việt Nam có mất quốc tịch Mỹ hay không còn có vấn đề đạo đức.

Khi tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ ta đã tuyên thệ xin bỏ quốc tịch cũ, bây giờ lại xin giữ quốc tịch cũ tức là đã bội thề, phạm vào chữ TÍN.

Luật quốc tịch mới của Việt Nam có luật ‘cứng’ và luật ‘mềm’.

- Luật quốc tịch ‘cứng’ quy định nguyên tắc một quốc tịch, tức là công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, nếu đã nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài.

- Luật quốc tịch ‘mềm’ lại cho phép những trường hợp ngoại lệ có thể có đồng thời quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài. Những trường hợp này được Chủ tịch nhà nước Việt Nam cho phép khi nhập quốc tịch.

Nếu ‘Việt Kiều’ xin giữ quốc tịch Việt Nam thì họ được hưởng luật quốc tịch ‘cứng’ hay luật quốc tịch ‘mềm’?

Nếu theo luật ‘cứng’ thì khi xin giữ quốc tịch Việt Nam họ có bị nhà nước Việt Nam coi là mất quốc tịch nước ngoài không? Còn nếu theo luật quốc tịch ‘mềm’ thì họ phải nộp đơn lên Chủ tịch nhà nước để giữ quốc tịch nước ngoài không?

Theo lời Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường trong buổi họp báo tại Văn phòng Chủ tịch nước ngày 4 tháng 12, 2008, thì: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho đến khi luật mới có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7, 2009 vẫn được coi là còn quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời hạn 5 năm, Việt kiều nào có nhu cầu thì làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Quá thời hạn đó sẽ mất quốc tịch Việt Nam song vẫn có thể xin trở lại quốc tịch Việt Nam, thậm chí họ vẫn giữ được quốc tịch nước ngoài khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam nếu có vợ, chồng, cha, mẹ con đã là công dân Việt Nam.”

Không ai hiểu nổi lời giải thích của ông Bộ Trưởng Tư Pháp.

Nếu tôi có cha mẹ, vợ hoặc chồng, con đã là công dân Việt Nam thì khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam sẽ không mất quốc tịch nước ngoài nghĩa là được quyền song tịch (đối với Việt Nam). Nhưng nếu không có cha mẹ, hoặc vợ chồng, hoặc con đã là công dân Việt Nam thì khi xin trở lại quốc tịch Việt Nam có mất quốc tịch nước ngoài không?

Vấn đề chủ yếu mà nhiều người Việt định cư ở nước ngoài quan tâm nhất sau ngày 1 tháng 7, 2009, khi Luật quốc tịch mới có hiệu lực thì chính phủ Việt Nam có còn coi họ là công dân Việt Nam để bắt họ phải thi hành những nghĩa vụ của công dân Việt Nam không. Một người muốn bỏ quốc tịch Việt Nam có cần phải làm đơn “Xin Thôi Quốc Tịch Việt Nam” như trước nữa không? Làm thế nào để chứng minh là mình đã ‘được’ mất quốc tịch Việt Nam. Chính quyền Việt Nam có cấp ‘giấy chứng nhận’ không?

Nếu Việt Nam tôn trọng nguyên tắc về lãnh thổ thì con cái ‘Việt kiều’ sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có đương nhiên có quốc tịch Việt Nam không? Đối với luật quốc tịch của Hoa Kỳ thì con của một công dân Hoa Kỳ (bố hoặc mẹ) thì dù có sinh ra ở đâu vẫn có quốc tịch Mỹ (nguyên tắc về huyết thống). Như vậy con của người Mỹ gốc Việt sinh tại Việt Nam là song tịch một cách ‘hiển nhiên’ kể từ lúc ra đời. Những đứa trẻ này vừa co khai sinh Việt Nam vừa có khai sinh Mỹ, như vậy sau này có phải làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam không?

Nếu luật quốc tịch của Việt Nam chấp nhận nguyên tắc huyết thống thì con cháu của Việt Kiều sinh ở nước ngoài có được coi là công dân Việt Nam hay không (vì mang huyết thống Việt Nam)? Nếu có thì họ có quyền xin ‘quyền tự động có quốc tịch Việt Nam’ như trường hợp công dân Mỹ sinh con ở nước ngoài không?

2. Người nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam

Luật quốc tịch mới của Việt Nam đòi hỏi khi xin nhập quốc tịch Việt Nam thì phải xin thôi quốc tịch nước ngoài thì cũng không khác gì luật quốc tịch của nhiều quốc gia khác. Vấn đề là Việt Nam chấp nhận song tịch như thế nào mà thôi.

Đối với chính phủ Việt Nam thì công dân Việt Nam chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam nhưng đối với nhiều quốc gia khác thì mặc dầu bạn đã nhập tịch Việt Nam bạn vẫn không mất quốc tịch của nước họ mà không cần phải ‘đăng ký xin giữ quốc tịch cũ’, trừ trường hợp bạn không chính thức xin từ bỏ quốc tịch của họ.

Nhà nước Việt Nam nói công dân Việt Nam chỉ có quyền có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Điều đó không có nghĩa là luật này có thể áp đặt lên quyền công dân của các nước khác. Vì quyền có quốc tịch là chủ quyền của mỗi quốc gia. Khi xin nhập quốc tịch Mỹ bạn phải tuyên thệ từ bỏ các quốc tịch cũ, có nghĩa là đối với chính phủ Hoa Kỳ, bạn chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Hoa Kỳ.

Nhưng chính phủ các quốc gia mà bạn có quốc tịch cũ vẫn có quyền coi bạn còn là công dân của họ vì đó là thẩm quyền của họ nên chính phủ Hoa Kỳ không thể can thiệp vào việc này được.

Vì vậy, khi một công dân Hoa Kỳ xin nhập quốc tịch Việt Nam, mặc dầu chính phủ Việt Nam đã bắt họ từ bỏ quốc tịch cũ, nhưng chính phủ Hoa Kỳ vẫn có quyền coi người đó là công dân Hoa Kỳ.

Nếu công nhận song tịch thì Việt Nam nên thẳng thắn và minh bạch.

Gs. Hà Ngọc CưViết riêng cho Người Việt
NV, Wednesday, July 01, 2009


Bài Phát Biểu Của Anh Nguyễn Minh Huy (Thanh Niên Cờ Vàng)

    Bài Phát Biểu Của Anh Nguyễn Minh Huy (Thanh Niên Cờ Vàng)
    Trong Lễ Kỷ Niệm Ngày QLVNCH tại San Jose 21-6-2009
Kính thưa quý bậc trưởng thượng
Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,
Kính thưa quý hội đoàn, đoàn thể người Việt Quốc Gia,
Kính thưa quý cô chú bác quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
Kính thưa quý anh chị và các bạn thanh niên sinh viên thuộc thế hệ hậu duệ,
Kính thưa quý đồng hương tỵ nạn Cộng Sản,

Hôm nay, trong ngày đại lễ trang trọng vinh danh Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại miền Bắc Cali của chúng ta, chúng tôi vô cùng hân hạnh được cơ hội bày tỏ đôi lời tâm tình cùng với tất cả quý cô chú bác và đặc biệt các bạn thanh niên sinh viên thuộc thế hệ hậu duệ.

Đứng trước mối hiểm họa mất nước và âm mưu thôn tính của giặc phương Bắc và sự bán đứng Tổ quốc của nhà cầm quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện đang xảy ra trên quê hương Việt Nam thân yêu, chúng tôi nghĩ rằng ngày đại lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa năm nay mang một tính cách vô cùng quan trọng và khẩn thiết hơn bao nào hết.

Trong suốt chiều dài lịch sử thăng trầm của quê hương Việt Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tiên phong làm tròn sứ mệnh cao cả và lớn lao: Đó là bảo vệ nền độc lập, tự do, chủ quyền và vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Ngàn đời ghi vào sử xanh những chiến tích oai hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và sự hy sinh cao cả của biết bao quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ Tổ quốc và ngăn chặn mọi âm mưa xâm lăng của Cộng Sản.

Làm sao chúng ta có thể quên được những sự hy sinh oai hùng và chiến đấu dũng cảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh lui quân đội Cộng Sản Bắc Việt, tái chiếm lại Cố đô Huế và ngăn chặn được sự tàn sát tập thể của hàng ngàn người dân vô tội trong biến cố Tết Mậu Thân 1968. Làm sao chúng ta có thể quên được sự kiên trì, tấm lòng hy sinh và quyết tâm, và sự chiến đấu hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đẩy lui sự xâm lăng của Cộng Sản, cắm lại được lá Cờ Vàng ba sọc đỏ tung bay trên cổ thành Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972.

Và kính thưa quý vị và các bạn thuộc thế hệ hậu duệ, làm sao chúng ta có thể quên được sự hy sinh dũng cảm của các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng vị quốc vong thân bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và vẹn toàn lãnh thổ của Tổ quốc Mẹ Việt Nam trong trận hải chiến Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974 chống lại sự xâm lược của Trung Cộng, trước sự nhu nhược, hèn yếu, và đồng lõa của tập đoàn Đảng Cộng Sản Việt Nam. Và còn còn biết bao nhiêu chiến tích oai hùng và sự hy sinh dũng cảm nữa mà chúng tôi sẽ không bao giờ kể cho hết.

Kính thưa quý cô chú bác, những quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không những hiện đang sống tại hải ngoại, nhưng còn biết bao nhiêu các chú, các bác đã hy sinh rất nhiều và ngay cả chính một phần thân thể của mình hiện giờ đang bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam ngược đãi và đang sống lây lấc trên chính quê hương của mình, cho cháu đây là thành phần thuộc thế hệ hậu duệ được xin nghiêng mình chân thành cám ơn tất cả quý cô, quý chú, quý bác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh rất nhiều trong công cuộc bảo vệ non sông Tổ Quốc.

Ải Nam Quan, Thác Bản Gióc là của Việt Nam! Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam! Tây Nguyên Trung Phần là của Việt Nam! Mỗi người con dân Mẹ Việt Nam phải có bổn phận bảo vệ giang sơn Tổ quốc. Không có một chế độ nào, một đảng phái nào, một tập thể nào, hay một cá nhân nào có thể bán đứng từng tấc đất, tấc biển của tổ tiên chúng ta!

Giờ đây các chú các bác trên đầu tóc đã điểm sương, thế hệ cha anh của chúng ta đã và vẫn còn đang tiếp tục tranh đấu cho lý tưởng Tự Do. Những chữ không nhiều nhưng hàm đầy ý nghĩa sâu sắc “Danh Dự - Tổ Quốc - Trách Nhiệm” của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang được trang trọng trao đến tận tay của thế hệ hậu duệ với tất cả niềm tin yêu và hy vọng.

Hỡi các anh chị em của thế hệ hậu duệ, những người thanh niên sinh viên khắp nơi từ trong nước ra lẫn hải ngoại, chúng ta hãy cùng xiết chặt tay nhau, đoàn kết dưới lá Cờ Vàng dân tộc, dưới lá Cờ Vàng chính nghĩa của Tổ Quốc Việt Nam, cố gắng hết sức mình để đóng góp một phần trong công cuộc dành lại nền Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, và sự vẹn toàn lãnh thổ cho quê hương Việt Nam.

Xin chân thành cám ơn tất cả quý vị đã lắng nghe những lời chia xẻ tâm tình của chúng tôi và xin trân trọng kính chào quý vị!

Nguyễn Minh Huy


Wednesday, July 8, 2009

Cái bẫy đang xập xuống - Nguyễn Ðạt Thịnh

Nguyễn Ðạt Thịnh

Chuẩn tướng Larry Nicholson người đang chỉ huy trên 4,000 lính TQLC Hoa Kỳ và 650 lính A Phú Hãn tiến vào hai làng Nawa và Garmsir gần tỉnh lỵ Lashkar Gah trong cuộc hành quân Khanjar (Nhát kiếm).

Nicholson tuyên bố với phóng viên truyền thông, “Chúng tôi đánh để chiếm, mà hễ đã chiếm là chúng tôi giữ, chúng tôi tổ chức phòng thủ và chuyển giao công cuộc phòng thủ đó cho quân đội A Phú Hãn.”

Anh Dean Nelson, văn phòng trưởng Nam Á của Reuter nhận xét Nicholson “oai” như Churchill -- vị thủ tướng vô cùng cương quyết của Anh đã lãnh đạo người Anh chống lại những cuộc tấn công cuồng nhiệt của Ðức quốc xã trong suốt 5 năm dài (1940- 1945).

Và tôi, anh phóng viên già không còn theo các đơn vị đến chiến trường, quan sát mọi diễn biến để viết bài được nữa, đành ngồi nhà đọc phóng sự của người khác viết.

Nhưng vói cái kinh nghiệm dài 23 năm về chiến tranh phi quy tắc, tôi cảm thấy lo lắng cho 64,000 lính Mỹ đang tham chiến tại A Phú Hãn. Họ sẽ sa lầy như họ đã sa lầy tại Iraq và Việt Nam.

Vị Tổng Tư Lệnh của họ, tổng thống Barack Obama, vì muốn họ không sa lầy, nên đã quyết định không làm những điều vị Tổng Tư Lệnh trước, nguyên tổng thống George W. Bush đã làm.

Ông chỉ thị những gì cho Ngũ Giác Ðài để thực hiện những thay đổi đó? Dĩ nhiên những chỉ thị của ông là bí mật quốc phòng, những không tiết lộ được, nhưng ai cũng đoán được; đoán qua khẩu khí của cấp chỉ huy nhỏ, và qua mục tiêu quân sự của những cuộc hành quân như “Nhát kiếm”.

Ðại úy Bill Pelletier, một đại đội trưởng tham dự hành quân, nói với phóng viên AP, “chúng tôi không quan tâm đến bọn chỉ huy Taliban, chúng không phải là mục tiêu hành quân, chúng tôi quan tâm đến nhân dân; chúng tôi sẽ lắng nghe quý vị kỳ hào, bô lão trong làng nói về những ưu tư của họ.” Trung úy Kurt Stahl, bảo một anh phóng viên Pháp của AFP, “Chúng tôi sẽ nói nhiều hơn bắn, chúng tôi sẽ nói chuyện với dân làng trình bầy cho họ hiểu mục đích của Hoa Kỳ, và nghe họ nói về ước vọng của họ.”

Súng không còn lăm lăm trên tay nữa, người lính Mỹ đang làm công tác dân sự vụ

Rất rõ: lệnh của tướng Nicholson là thận trọng hỏa lực, bầy tỏ tối đa thái độ thân dân, bảo vệ và giúp đỡ dân.

Quân Mỹ tiến vào tái chiếm những làng xã phía Nam hạ lưu sông Helmand; tái chiếm có nghĩa là trước kia đã chiếm và đã mất. Ðiều này đương nhiên phải gợi lên nguyên nhân của sự thất thủ của những đơn vị A Phú Hãn chiếm đóng hai làng Vawa, Garmsir, và những làng khác.

Việc cánh quân Nicholson đặt nặng công tác dân vận, nặng hơn cả công tác chiến đấu quân sự giúp chúng ta hiểu rằng người Mỹ tưởng vùng hạ lưu Helmand thất thủ vì những đơn vị trấn đóng có thái độ thất nhân tâm.

Nguyên nhân thật của việc thất thủ phức tạp hơn; trên địa hạt nhân tâm người dân Helmand không thích chính sách của Mỹ chứ không phải không thích người lính Mỹ hay người thân binh A Phú Hãn.

Chính sách Mỹ chủ trương triệt hạ toàn thể những ruộng thẩu, nguyên liệu để chế tạo thuốc phiện và nhiều thứ ma túy khác.

Dân A Phú Hãn sống tại thung lũng Helmand trồng đến 103,000 mẫu thẩu trị giá 1 tỉ mỹ kim. Những nỗ lực phá hủy ruộng thẩu của Hoa Kỳ khiến A Phú Hãn chỉ còn thu về có 3.4 tỉ mỹ kim năm 2008, so với 4 tỉ năm 2007.

Như vậy thì lời lẽ thuyết phục người Helmand không phải là tiếng chào vui vẻ của anh GI Hoa Kỳ, mà là phương thức tạo lợi tức khác cho dân chúng.

Trên địa hạt chiến thuật, những đồn binh trong vùng hạ lưu sông Helmand thất thủ, khiến các tổ chức hành chánh tại những xã này cũng bị phá tan.

Nếu các tướng lãnh Hoa Kỳ không tìm được cách bảo vệ xã mà không tùy thuộc vào cái đồn binh đóng trong khuôn viên của xã, hay gần đó, thì họ đang tái bản những tác phẩm mà thế hệ trước họ đã viết tại Việt Nam.

Cái bẫy chiến tranh phi quy ước đang xập xuống đầu những người lính Mỹ có khả năng chiến đấu rất cao nhưng lại không biết làm công tác dân sự vụ.

Nguyễn Ðạt Thịnh


TRẦN THANH: LÝ VÀ TÌNH 13 - Bảo quốc Kiếm

Bảo quốc Kiếm

Trở lại tìm hiểu câu kết luận của Trần Thanh rằng: ”Mặt trận chính là ở hải ngoại” có đúng hay không, và vì sao ông ta đưa ra vấn đề này. Trong một bài trước, tôi đã nêu vài nhận xét, nay xin phép đi sâu hơn một chút về cuộc chiến nhằm đem lại Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho quê hương. Ở đây chỉ xin tóm lược vài ý chính, còn thực tế, muốn trình bày chuyện này không dễ gì dùng vài trang giấy mà có thể nói hết được.

1. Quá trình lịch sử của cuộc chiến 1945-1975 đã cho chúng ta thấy số phận Việt nam không nằm trong tay người Việt, mà chịu sự sắp xếp của những thế lực quốc tế.

2. Bây giờ Đồng bào trong và ngoài nước không ai hy vọng một cuộc nội chiến bằng vũ lực sẽ xảy ra.

3. Tất cả các nước đã bang giao với Việt nam Cộng sản.

4. Cả ba thứ đế quốc, Cộng sản, Tư bản, Tinh thần đang âm thầm tranh chiến hầu thống trị Dân tộc chúng ta.

Qua bốn nhận thức ngắn gọn như thế, tôi thấy một viễn cảnh kinh hoàng đang phủ lên đầu Dân Việt, nếu không chịu cảnh tỉnh. Cái chỗ khó là cuộc chiến này không nghe tiếng súng nổ, không thấy máy bay, xe tăng chuyển động, không thấy chất độc hủy hoại môi sinh; mà chỉ toàn là những bóng mờ Ma quỷ của sự lấn chiếm “tinh thần” dưới nhiều hình thức khác nhau. Các chính sách khủng bố, bao tử, trấn áp…đang được chế độ CS áp dụng một cách triệt để; cùng lúc những tiếng vọng bên ngoài lại ngân lên tha thiết về tự do, dân chủ, nhân quyền…Thế nhưng, có ai biết rằng “bản giao hưởng” ấy chỉ quy về một mục đích “dành quyền thống trị” một dân tộc vốn đã chịu nhiều khổ sở.

Như thế, cuộc chiến không còn là giai đoạn súng đạn, vì không ai yểm trợ chúng ta làm công việc này. Không phải người ta thương mến, mà là họ thực hiện câu: “hoà bình là giai đoạn tiếp nối chiến tranh”. Phải để người ta thở sau những giờ phút quá mệt mỏi, thì chiến cuộc sau mới tăng cao. Phải tạo ra “nhiều thứ lý tưởng tinh thần” thì trình độ chiến tranh mới lên đến tuyệt đỉnh ! Từ suy nghĩ này, cho thấy những kẻ bạo mồm nói chuyện “mặt trận chính là ở hải ngoại”; “phải tận diệt Cộng sản bằng bạo lực”…là những ý đồ đen tối; chứ không chỉ “phi thực tại” không thôi. Vì thế, khi chủ trương đẩy “mặt trận chính là ở hải ngoại”, là phe nhóm này cố tình che mắt người Việt trong nước để chúng thực hiện âm mưu: “DIỆT TINH THẦN TỰ CHỦ CỦA DÂN TỘC ĐỂ CHẠY THEO LÝ TƯỞNG TÔN THỜ NGOẠI BANG”. Chính vì vậy, khi nghe Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ đưa ra một cuộc TỰ CỨU bằng cách kêu gọi toàn dân hành động phản kháng kẻ nội thù bán nước để dành lại QUYỀN TỰ QUYẾT DÂN TỘC, QUYỀN TỰ CHỦ QUỐC GIA, LẬP LẠI NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM, thì bọn chúng hoảng sợ.

Lịch sử thế giới cho thấy trong các cuộc xâm lăng, không có cuộc xâm lăng nào tồn tại lâu dài bằng XÂM LĂNG VĂN HOÁ. Một khi Văn hóa đã bị xâm lăng, thì Dân tộc ấy bị mất gốc, không thể tự chủ và do đó quốc gia họ sẽ trở thành lệ thuộc, Đồng bào họ sẽ bị biến thành nô lệ, mà có lúc, có người không tự biết. Ý thức được những nguy hiểm ấy, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản phải công khai hoá toàn bộ “việc nước” để toàn dân được biết; nghĩa là phải giành lại QUYỀN LÀM CHỦ TOÀN DÂN, chứ không thể chấp nhận một chế độ độc tài, độc trị, độc đoán … như chủ nghĩa Cộng sản hiện nay. Chính lời Kêu gọi ấy không thoả mãn cả Ba thứ đế quốc vừa nêu, cho nên trong đánh ra, ngoài đánh vào, kể cả việc chúng tự phân thân để ủng hộ; nhằm tạo môi trường xâm nhập vào Phật giáo như các vụ 1966-1968 trước đây. Và cuối cùng chúng sẽ mua chuộc hoặc qua mặt được những kẻ hững hờ, rồi dùng Sư đánh Sư như các Ông Thích tâm Châu, Thích tuệ Sỹ …Và dùng Phật tử giết Phật tử bằng những trò tình báo chính trị trong quá khứ cũng như hiện nay. Cả ba loại đế quốc cùng chung hướng, vì vậy chúng tập trung nhân lực tung hoả mù trong dư luận liên tu bất tận để khai thác câu: “không có lửa làm sao có khói”, hay ít ra cũng được câu: ”xấm xít không ít thì nhiều”… nghĩa là tạo ra vô số nghi ngờ, mà không ai biết đầu đuôi vào đâu cả. Một thí dụ mới đây nhất là ông Thiếu tá Liên Thành, cựu Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia Tỉnh Thừa thiên lại đưa ra một bài viết cho rằng Đỗ ngọc Yến là nhân viên của Phủ đặc ủy Trung ương Tình báo Việt nam chẳng hạn. Có nhiều người tin lắm chứ; nhưng không ai để ý rằng, với vai trò một Trưởng ty Cảnh sát Tỉnh, thì làm sao ông Liên Thành có đủ tư cách xác nhận chuyện của Phủ Tình báo Trung ương ? Họ tin vì họ không hề biết gì về nguyên tắc Tình báo, hệ thống tổ chức, cơ cấu điều hành … Nhưng, Thành cứ nói, có nói thì có người tin dù chỉ một hai người; nghĩa là có lời mà không mất vốn xu nào. Ngược lại, những vị biết chuyện lại chỉ ngồi cười theo nhịp “rung chữ ngũ chi đùi”, không thèm cải chính, mặc ai với ai, miễn mình không làm sai là được, hoặc nói cũng vậy thôi, ai làm nấy chịu, hơi đâu tranh luận … Họ quên mất rằng chính khái niệm vừa cầu an, vừa cao ngạo vô lý ấy, vừa hững hờ vô trách nhiệm ấy đã dẫn Dân tộc Việt đến những cuộc tắm máu rùng rợn trong lịch sử, đặc biệt từ 1954 đến 1975; và còn kéo dài sau này nữa. Một trong những tác hại ghê gớm là cuốn sách Biến Động Miền Trung của Liên Thành. Tiếp theo là dòng dõi nhà họ Hứa, những đồng chí giấu mặt của đảng này.

Tạm ngưng ngang đó để nói về yêu sách thứ ba, mà những kẻ cuồng ngôn cho rằng đó là:

“Cái kiểu đề nghị "một đại hội đại biểu toàn dân trong và ngoài nước" của ông Quảng Ðộ nó bay mùi "hòa hợp hòa giải" mà bọn cò mồi chính trị đã dùng nhẵn thín, tựa như tờ giấy chùi đít, bây giờ đến phiên ông Ðộ dùng. Tại sao lại phải tập họp lại để van xin bọn việt gian cộng sản giải quyết nạn "bô xít"? Ðây là một hình thức gián tiếp công nhận cái chính quyền ăn cướp của bọn giặc là "hợp pháp"! Vì nó "hợp pháp" cho nên ông Ðộ mới van xin nó "triệu tập đại hội để giải quyết"! Cái thằng giặc nó đã cướp mất nhà của chúng ta, bây giờ những người bị cướp nhà lại rủ nhau van xin nó, xin nó triệu tập một buổi họp để cùng với nó giữ nhà khỏi bị mất vào tay thằng hàng xóm!

Để xem những lời lẽ này như thế nào, chúng ta cần xem trong Yêu Sách Thứ Ba này Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ đã nói gì ?

“3. Yêu cầu nhà cầm quyền Việt nam khẩn cấp triệu tập một đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng Bô xít ở Tây nguyên’.

Như thế thì cái “mùi hoà hợp hoà giải” nó nằm ở đâu ? Trước khi đi sâu hơn vào vấn đề, tôi thiết tưởng cần xác quyết cụm từ “hoà hợp hoà giải” của Trần Thanh là ngược ngạo, vô lý. Không thể có chuyện chưa Hoà giải mà Hoà hợp được. Khi dùng như thế, tự Trần Thanh đã tố cáo âm mưu “hoà hợp hoà giải” mà ông cho rằng của đảng Việt tân, nhưng đích thị là của chính gã. Thế thì Thanh chửi Thanh chứ ai khác ? Nói cách khác Trần Thanh chính là Việt tân, chủ trương “hoà hợp với Cộng sản trước rồi mới Hoà giải sau”; nghĩa là còng lưng xuống làm tôi cho VC để hưởng lợi. Nhưng khi đã còng lưng, bò bằng đầu gối rồi, thì CS sẽ coi anh n“con chó ghẻ, vậy làm sao nó hoà giải với anh ? Ngược lại với Trần Thanh, tôi cho rằng, muốn “Hoà hợp” với nhau, thì trước hết phải “Hoà giải” đã. Không hoà giải được thì như ném lửa vào nước mà thôi, làm gì có chuyện hoà hợp được ? Nguyên tắc của Hoà giải là phải tôn trọng đối phương, xem nhau như hai cánh tay của một thân thể, xem quyền lợi trách nhiệm của mỗi bên ngang hàng nhau, thì mới nói chuyện được. Điều này Cộng sản có làm được hay không ? Phải chăng, vì thấy đây là điều mà bọn cầm quyền tại Bắc bộ phủ không thể đáp ứng, nên Trần Thanh hay Việt tân chủ trương Hoà hợp trước Hoà giải ?

Đọc và suy nghĩ Yêu Sách Thứ Ba của Đại lão Hoà thương Thích Quảng Độ, tôi thấy ngài đã đặt ra một cách hữu lý. “Yêu cầu nhà cầm quyền Việt nam khẩn cấp triệu tập…”; nghĩa là nhà cầm quyền phải “tự hoà giải” với tất cả thành phần dân tộc, phải tôn trọng toàn dân trong và ngoài nước; phải xem mọi người Việt đều có quyền quyết định chung việc nước, phải từ bỏ điều 4 vô lý của Hiến pháp Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam do Đảng Cộng sản đặt ra… Do đó, không có chuyện: “Tại sao lại phải tập họp lại để van xin bọn việt gian cộng sản giải quyết nạn "bô xít"?, mà nhà cầm quyền Việt nam phải chính thức đứng ra triệu tập đại hội này, một thách thức mà Cộng sản khó thực hiện được. Hai chữ “van xin” mà Trần Thanh cố gắng đưa ra để phủ đầu kẻ khác, nghe nó ngộ nghĩnh làm sao ấy. Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ nói rõ ràng rằng: “để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng Bô xít ở Tây nguyên”; chứ chẳng phải “van xin” ai cả. Đã gọi là “cùng nhau”, thì trong đó không còn phân cao hạ, không đặt chuyện hữu quyền hay vô quyền, tất cả đểu bình đẳng; nghĩa là Cộng sản không thể độc quyền như từ trước đến nay. Cao hơn một bậc nữa, là “cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng Bô xít ở Tây nguyên”, một điều mà đảng Cộng sản không thể nào thực hiện nỗi. Bởi vì, nếu chấp nhận điều này, thì Cộng sản đã tự mình thấy quyết định khai thác ấy là sai trái, làm hại Tổ quốc Dân tộc và Đồng bào Việt nam. Đây là sợi dây thòng lọng mà người Cộng sản khó thoát. Khi đặt ra vấn đề như thế, là đã kẹp chặt hai gọng kềm của lý thuyết. Nếu người Cộng sản thực hiện được, thì xem như đất nước Việt nam đã tự giải phóng, khỏi cần phải bàn tay quỷ quái nào thò vào nữa; bởi vì quyết định đã thuộc về tay đồng bào, không còn độc trị Cộng sản chủ nghĩa nữa. Nhưng điều này còn xa vời quá. Ngược lại, chế độ Cộng sản không chịu “triệu tập khẩn cấp một đại hội” như thế, thì tự họ phơi bày rõ thêm bộ mặt bán nước đã quá nhem nhuốc lâu nay trước quốc dân và quốc tế. Và ngay từ chỗ ấy, sự uất hận của toàn dân sẽ dâng cao, kể cả những người “nhân danh cầm súng bảo vệ Tổ quốc”. Tự những người ấy sẽ thấy rằng mình chỉ cầm súng để bảo vệ cái đảng Cộng sản bán nước, chứ có bảo vệ Tổ quốc nào đâu. Nếu đã nói rằng bảo vệ Tổ quốc, thế tại sao họ cúi đầu trước việc đảng họ dâng Bản giốc…Hoàng sa, Trường sa cho Trung cộng ? Tôi vẫn hy vọng sau những đêm dài trong bóng tối, người ta sẽ tỉnh cơn mê.

Mặt khác, khi viết toàn câu: ”cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng Bô xít ở Tây nguyên”, là Hoà thượng Thích Quảng Độ đã tố cáo âm mưu nham hiểm của Trung cộng. Chính Trung cộng lập ra chủ trương này để đi từ kinh tế đến chính trị, quốc phòng hầu thôn tính Việt nam một lần nữa, mà lần này nguy hiểm dài lâu hơn ngàn năm trước đây. Một câu nói mang đầy tâm huyết của một người Việt ưu tư với khổ nạn của Dân tộc đã được thâu gọn lại: ”Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị nương trên dãy Trường sơn”. Câu nói ấy không đơn giản, tuy ngắn gọn, nhưng tha thiết nhắc lại sự mất nước ngay từ thuở xa xưa vì bị lầm mưu “ân tình hữu nghị” của giặc phương Bắc. Cũng từ trong câu ấy, ngài đã nhắc nhở rằng:”TÂY NGUYÊN LÀ CHIẾC NỎ THẦN CỦA VIỆT NAM’, do đó, nếu kẻ cầm quyền không lưu tâm, thì cả quốc gia sẽ bại vong mai hậu. Một cảnh giác cao hơn nữa, là ngày xưa Trọng Thủy dụ dỗ Mị Nương, nhưng hôm nay Trọng Thủy không còn tư cách cũ, mà chàng cố tình CƯỠNG ĐOẠT; nghĩa là bất chấp mọi khen chê thế sự, miễn chiếm được mục tiêu trước mắt. Qua đó, chúng ta thấy ngay lời cảnh báo thâm trầm đối với kẻ cầm quyền, và cũng từ đó mở đường giải quyết quốc nạn. Nếu không triệu tập một đại hội toàn dân bao gồm cả trong và ngoài nước để lấy quyết định, thì chắc chắn Việt nam sẽ trở thành Tây Tạng trong một ngày gần đây. Đó cũng là con đường duy nhất để đảng Cộng sản Việt nam “giải quyết món nợ ân tình với Trung cộng” và thoát khỏi một lần tội lỗi bán đứng quê hương.

Bên cạnh những lý lẽ đơn sơ như thế, chúng ta thấy ngay rằng, nếu lần này Cộng đảng không triệu tập được một đại hội như Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ đề nghị, thì tự người Cộng sản đã không chịu “HÒA GIẢI” với Đồng bào trong và ngoài nước, không chia xẻ bổn phận và quyền lợi với toàn dân; do đó dẫn đến việc KHÔNG THỂ HOÀ HỢP VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN. Như thế, sự phản kháng của ngài đối với âm mưu “hoà hợp hoà giải” của Trần Thanh, của Viêt tân đã được trình bày rõ rệt. Có lẽ nhận chân được điều này, băng đảng họ Hứa đã bù lu bù loa nói ngược như vừa trình bày. Tôi xin nhắc lại rằng PHẢI HOÀ GIẢI DÂN TỘC TRƯỚC KHI CÓ THỂ HOÀ HỢP. Trần Thanh đừng hòng chơi trò “vừa ăn cướp vừa la làng”. Muốn hoà giải dân tộc, thì chính Cộng đảng cầm quyền phải làm trước, chứ không ai khác. AI ĐÃ TỪ CHA BỎ MẸ RA ĐI, THÌ CHÍNH KẺ ĐÓ PHẢI TRỞ VỀ, CHỨ CHA MẸ CHƯA BỎ CON BAO GIỜ. Nhưng ngặt nghèo thay, chỗ này làm đau lòng cả ba thứ đế quốc, nên Dân tộc Việt phải chống đỡ cả ba mũi giáp công.

Do kiên định LẬP TRƯỜNG DÂN TỘC, Giáo hội Phật giáo Việt nam không chấp nhận đem Dân tộc hiến dâng cho Ngoại Ma Ác đảng, vì thế qua bao nhiêu thời đại, bọn Quỷ dữ vẫn tiếp tục cắn xé. Và lần này thì miệng mồm băng đảng nhà họ Hứa đang nhuộm thắm máu tanh và dính đầy những ABOMINATIONS như Nguyên Thần của chúng.

Quý vị nghĩ gì khi đọc:

Ðây là một hình thức gián tiếp công nhận cái chính quyền ăn cướp của bọn giặc là "hợp pháp"! Vì nó "hợp pháp" cho nên ông Ðộ mới van xin nó "triệu tập đại hội để giải quyết"!”

Một luận điểm như thế có chấp nhận được không ? Theo cá nhân tôi, NHẤT ĐỊNH KHÔNG. Một điều dễ hiểu nhất là ĐÃ ĂN CƯỚP THÌ KHÔNG PHẢI CHÍNH QUYỀN, MÀ CHÍNH QUYỀN THÌ KHÔNG DO ĂN CƯỚP. Ở đây, nhà Chính trị, Tiến sỹ, Đảng viên…đã chơi trò con khỉ: “chính quyền ăn cướp” là vì lý do gì ? Đã là “ăn cướp” thì phải gọi là “Ngụy quyền”; còn nếu tôn xưng nó là “Chính quyền”, thì nó đâu phải là “ăn cướp” ? Chỗ léo lận này nghe quê quá đi thôi !

Lại nói đến hai chữ “hợp pháp” là pháp nào, pháp của ai, đối với ai ? Thử hỏi, hiện nay, người Việt nói chung, và người Tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại nói riêng có lập ra bản Hiến pháp Việt nam nào không ? Tuyệt nhiên không có. Như thế thì lấy cái Hiến pháp nào để nói nó hợp hay không hợp ? Ngược lại, trước Quốc tế, chế độ Cộng sản Việt nam với quốc hiệu Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, các quốc gia đã thừa nhận và bang giao, trong đó có Nhà nước Vatican đang vờ vĩnh mơn trớn, nhưng thực tế liên hệ ba mươi mấy năm qua như thế nào thì mọi người đã rõ. Vậy thì, nó là kẻ cầm quyền, nó có Hiến pháp, nó được quốc tế công nhận … thì lấy hai chữ hợp pháp mà nói với ai ? Cho nên, ở đây chúng ta chỉ có thể nói chế độ Cộng sản không hợp lòng dân, Phi Dân chủ, Phản Nhân quyền, bán đứng Tổ quốc, hãm hại đồng bào … do đó, chúng ta đấu tranh để giành lại những gì mà người dân đã bị chế độ cướp đi; phục hồi quyền sống đúng nghĩa của một con người; chứ không thể nào dùng chữ hợp pháp. Nếu anh đủ trình độ và tư cách, xin hãy đến trước Hội đồng Liên hiệp quốc để đuổi nó đi xem sao ? Nếu nói đến Hiến pháp, thì hiện nay chỉ nó mới có, vì nó là kẻ cầm quyền, bất kể Hiến pháp ấy như thế nào; vậy không lẽ anh nói “nó không hợp pháp của nó” hay sao ? Và nếu nói như thế, thì chính anh mới là kẻ công nhận chúng, chứ ai khác ? Còn người dân trong nước, hẳn nhiên phải dựa trên Bản văn Hiến định ấy mà đấu tranh, đòi hỏi loại trừ những văn kiện méo mó cấp thấp hãm hại đồng bào; từng bước đòi cải thiện sinh hoạt chính trị, chứ có con đường nào khác ? Từ những đấu tranh lẻ tẻ tập hợp thành lực lượng quy mô để buộc chúng phải thay đổi cho đến lúc chúng không thể đứng vững. Thế là hoàn thành sứ mạng. Nhưng sự đấu tranh phải là đấu tranh chính trị, và đặt căn bản trên quyền lợi tối thượng của Tổ quốc, Dân tộc, Đồng bào, chứ những chuyện “đòi nhà liên gia”, “đòi dùm ngoại bang”, thì không thể nào thành công được. Tại sao ? Bởi vì mục tiêu giới hạn, mệnh lệnh từ xa, dễ dàng thỏa mãn…và không mang lại lợi ích chung mà toàn dân mong đợi !!! Xin đừng mạnh mồm xúi dại đẩy “đại sự quốc gia” xuống “trò chơi trốn tìm xó bếp”.

Tóm lại, qua mười bốn bài (kể cả bài đầu tiên) tôi đã cố gắng tìm hiểu những phản công của nhóm đảng nhà họ Hứa trước Lời kêu gọi của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất do Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, nhân danh Hội đồng Lưỡng viện đưa ra. Thiết nghĩ, sự sai khác, sự bất đồng là một chuyện rất bình thường trong xã hội. Không những từ những tập hợp người (hay thú) từ hai trở lên thì nghiễm nhiên đã hàm chứa sự xung đột; mà ngay trong mỗi con người, thì cái tâm thức cũng đã biến dịch không ngừng nghỉ. Sự xung đột giữa đúng sai, phải trái, thiện ác … có thể xảy ra trong từng sát na thời gian. Có thể với một điều gì đó, hôm qua mình cho là sai, nay lại cho là đúng; và ngược lại. Như thế, không ai tranh chấp, tranh luận với mình cả, thì sự tương khắc cũng xảy ra. Bởi một điều dễ hiễu là, nếu không “tương khắc”, thì không có “tương sinh’, mà nếu không có hai thứ trái ngược này thì cuộc sống không còn nữa, vũ trụ tan rã. Không thể có chuyện “âm hợp với âm” hay “dương hợp với dương” mà sinh ra vạn loại. Sự sống phải do “phối hợp âm dương” nghĩa là từ xung đột mà có. Nhưng sự xung đột ấy không hủy hoại nhau, mà là “tương tác” để “tương tồn”. Đây không phải là một triết lý cao xa gì, mà là hiện thực ai cũng có thể nhận biết hằng ngày.

Từ cảm niệm rất nhà quê, thô thiển, cạn cợt này, tôi liên tưởng đến những động thái ngông cuồng của Trần Thanh, Trương minh Hoà, Trần lệ Tuyền … của đảng họ Hứa. Bên cạnh những thứ này, còn thêm Trần tú Uyên, Sacle, Lamourze Nguyen, Josephnguyen, con vện Vĩnh long phụ hoạ … đã cho thấy họ là những kẻ mang thân người, nhưng tâm là tâm thú. Hành động của những kẻ này còn thua cả loài TRÂU. Tôi nói như thế, vì từ nhỏ mặc dù nhà nghèo không có trâu, và không được chăn trâu mướn, nhưng hàng ngày theo các bạn ra đồng chăn trâu, tôi thấy rõ khi những CON TRÂU LẠ đến, thì những con TRÂU LÀNG muốn đánh nhau, chúng cũng phải ĐO SỪNG trước đã. Nếu SỪNG KHÔNG CÂN, thì chúng không đánh. Còn ở đây thì khác, bọn người nhà đảng Hứa không cần biết đến người mình nói với là ai, bọn chúng chỉ vì “thiên lệnh” ĐI CẮN NGƯỜI TA, miệng mồm đầy máu me, dơ dáy. Những ngôn ngữ còn thua cả bàng sanh khổ thú, thì bọn chúng là ai ? Xin thưa ngay, BỌN CHÚNG LÀ NHỮNG CON THÚ CON LÀM THEO LỆNH CỦA CON THÚ MẸ. Nhưng lần này chúng đã bị xui.

Tạm chấm dứt loạt bài này hôm nay, và nếu cần sẽ tiếp tục.

TÔI DỨT KHOÁT KHÔNG ĐỂ CHO LOÀI THÚ NÀY BÁO HẠI NHÂN SINH.

Bảo quốc Kiếm-21-6-09