Friday, June 5, 2009

Nguồn gốc bạo lực cộng sản - Ngô Nhân Dụng

Thanh niên HongKong tưởng niệm 20 năm Thiên An Môn

Ngô Nhân Dụng

Ðêm mùng 3 tháng Sáu năm 1989, bà Trương Tiên Linh (Zhang XianLing) thấy tấm giấy do cậu con trai 19 tuổi viết để lại, cho bố mẹ biết cậu đi tới quảng trường Thiên An Môn, coi các bạn biểu tình. Bà là một kỹ sư, hai vợ chồng chỉ có một đứa con đang học đại học. Ðêm hôm đó, súng nổ ở Thiên An Môn, không biết mấy ngàn sinh viên đã bị giết, bà Trương không tìm thấy con đâu. Mười ngày sau người ta mới đưa xác của cậu trả cho cha mẹ, xác đã bắt đầu hư, nhưng trên mặt cậu sinh viên còn đeo đôi kính trắng.

Bà Ðinh Tử Lâm (Ding Zilin) là giáo sư Triết Học tại Ðại Học Nhân Dân ở Bắc Kinh, trong bảy tuần lễ các sinh viên và công nhân biểu tình ở Thiên An Môn bà đã khuyên các học trò của mình, có khi đến tận ký túc xá nơi sinh viên ở trọ, yêu cầu họ đừng có dính vào vụ biểu tình, nguy hiểm, vì thế nào đảng Cộng Sản cũng đập. Nhưng bà không ngăn được cậu con trai 17 tuổi, vì chồng bà đồng ý với con. Ðêm mùng 3 Tháng Sáu 1989 cảnh sát đem xác cậu về nhà trả cho cha mẹ, cậu bị bắn trúng tim. Bà Ðinh thấy mình mất lẽ sống, bà đã tính tự tử, sáu lần, nhưng không chết được. Hai vợ chồng bà đều là giáo sư, đã bị cho nghỉ hưu non.

Hai bà mẹ trên là những người thành lập nhóm Các Bà Mẹ Thiên An Môn. Mỗi năm đến ngày Lục Tứ (4 Tháng Sáu, nói lối người Trung Hoa) họ lại gửi thư cho các người lãnh đạo đảng Cộng Sản và chính phủ Trung Quốc để yêu cầu điều tra lại vụ tàn sát ở Thiên An Môn. Họ đã liên lạc và xác định được 195 gia đình có con bị giết ở Thiên An Môn trong cuộc tàn sát do Ðặng Tiểu Bình ra lệnh. Họ tin rằng con số sinh viên bị giết cao gấp mười lần số đó. Còn nhiều gia đình khác không biết con cái của mình đã biến đi đâu từ đó tới giờ.

Mỗi năm sắp đến ngày Lục Tứ hai bà mẹ trên dưới 70 tuổi này lại bị công an gọi lên “làm việc” mặc dù họ đều bị giam lỏng tại nhà sau nhiều lần bị tù. Bà Trương nói, chính nhờ cuộc tranh đấu vì cái chết của con mình mà bà mới khám phá ra những gì gọi là “nghĩa vụ công dân”. Làm công dân một nước thì phải tranh đấu cải thiện xã hội. Các Bà Mẹ Thiên An Môn yêu cầu chính quyền Trung Quốc phải xóa bỏ lời kết tội “phản cách mạng” mà họ đã gán cho các sinh viên biểu tình. Họ yêu cầu phải điều tra xem ai là người chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát; tìm đủ danh sách những người đã bị giết và bồi thường cho các nạn nhân.

Năm nay, cuốn tự thuật của ông Triệu Tử Dương, cựu tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc trong thời gian xảy ra vụ Thiên An Môn, cho thấy người quyết định vụ tàn sát chính là Ðặng Tiểu Bình, và người xúi giục rồi thi hành là Lý Bằng, lúc đó là thủ tướng. Triệu Tử Dương xác định rằng ông phản đối thái độ coi cuộc biểu tình của các sinh viên là “phản cách mạng” vì họ không hề chống lại sự cai trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Bà Trương cũng nghĩ như vậy, “Sau 20 năm, ý kiến của tôi vẫn không thay đổi. Các sinh viên biểu tình họ chỉ đi biểu tình chống tham nhũng. Và bây giờ thì chúng ta phải công nhận là các sinh viên có lý. Bây giờ tham nhũng nhan nhản khắp mọi nơi. Bọn sinh viên đã nhìn thấy trước cảnh này”. Ông Bao Ðồng, một cộng sự viên thân cận của Triệu Tử Dương mới nhớ lại 20 năm trước, cũng nhận xét là từ thời điểm đó “lịch sử đã ngừng; cuộc cải tổ đã đứng khựng lại.”

Năm nay nhiều cựu sinh viên Trung Quốc đã từng tham dự cuộc biểu tình ở Thiên An Môn và đang sống lưu vong đã gặp nhau để tưởng niệm những người bạn đã bị giết. Họ cùng nhau xác định ý nghĩa của cuộc biểu tình: Ðòi cải tổ Trung Quốc theo một đường lối phát triển có tự do dân chủ hơn, khác với chính sách mà đảng Cộng Sản vẫn theo đuổi từ đó tới nay. Hậu quả của vụ tàn sát sinh viên là đảng Cộng Sản đã đưa Trung Quốc tới cảnh tượng bây giờ: quan chức tham nhũng, xã hội bất công, đạo đức suy đồi, công nhân thất nghiệp và môi trường sống bị hủy hoại. Càng ngày người Trung Hoa càng thấy rằng muốn giảm bớt những tai họa trên thì phải dân chủ hóa.

Ðặng Tiểu Bình và Lý Bằng không chịu thay đổi chủ trương độc tài đảng trị, cho nên họ dẹp đám sinh viên biểu tình. Nhưng điều khiến mọi người vẫn ngạc nhiên là tại sao họ phải giết nhiều người như vậy mà không dẹp biểu tình một cách trật tự ôn hòa hơn? Những đoàn quân từ các tỉnh được chuyển về theo lệnh Ðặng Tiểu Bình, người cầm đầu quân ủy trung ương. Phần lớn các binh lính đó là nông dân, nhiều người bị bắt lính vì đến tuổi, họ không biết đám sinh viên biểu tình này là ai, không biết chúng ở đó làm cái gì. Họ chỉ biết được lệnh bắn là bắn. Và những chiếc xe tải chở lính đi theo xe tăng chạy vào trong đám sinh viên, trên những chiếc xe đó, đám lính trẻ được lệnh bắn là bắn. Coi lại những video quay trong đêm mùng 3, sang ngày 4 Tháng Sáu năm 1989 chúng ta nghe súng nổ như một trận chiến đang diễn ra. Nhưng đây là một trận đánh chỉ có một bên có súng và nổ súng. Và trong lúc đám lính vô tội cứ bắn xả vào đám sinh viên vô tội không làm gì để chống cự, thì đám thanh niên biểu tình vẫn cùng nhau hát vang lên bài “Quốc Tế Ca,” bài hát của phong trào Cộng Sản quốc tế vẫn được đài Bắc Kinh phát thanh mỗi ngày!

Ai đã ra lệnh cho lính bắn xối xả vào đám thường dân biểu tình ôn hòa và trật tự? Ai ra lệnh họ bắn giết không ghê tay trong khi đám thanh niên trẻ tuổi không một tấc vũ khí chỉ biết chạy trốn để rồi bị quét sạch như những con thú bị săn đuổi trong rừng?

Cuộc thảm sát sinh viên ở Gwangju, Hàn Quốc năm 1980 (Quang Châu Dân Chủ hóa vận động) xảy ra sau khi các sinh viên và dân chúng biểu tình chống độc tài quân phiệt đã chiếm chính quyền ở thành phố này trong 2 ngày. Nhưng về sau, khi Hàn Quốc đã lập chế độ tự do dân chủ, Tướng Chun Doo-Hwan vẫn bị đưa ra tòa kết án tù. Biến cố này, theo chính quyền chỉ gây ra 144 thường dân tử thương, nhưng các gia đình nạn nhân cho con số 165 người.

Chế độ độc tài quân phiệt ở Hàn Quốc không nhẫn tâm bằng chế độ Cộng Sản ở Trung Quốc. Và ngay những người lãnh tụ quân phiệt cũng chấp nhận bắt đầu quá trình dân chủ hóa, để tới ngày người dân bỏ phiếu chọn người nắm quyền cai trị, những vị tổng thống mới đã truy tố các lãnh tụ quân phiệt, ông Chun Doo-Hwan bị án tử hình rồi được hai vị tổng thống dân chủ đồng ý ân xá.

Tại sao các lãnh tụ Cộng Sản Trung Quốc có thể nhẫn tâm ra lệnh cho lính bắn những sinh viên biểu tình ôn hòa gần hai tháng trời? Ðặng Tiểu Bình, Lý Bằng cũng không phải là những người khát máu. Chính họ đã từng bị đầy ải, hành hạ vì bất đồng ý kiến với các lãnh tụ đảng! Tại sao họ lại đang tay ra lệnh giết những thanh niên đáng tuổi con cháu họ, chỉ vì đám trẻ này hăng hái đòi bài trừ tham nhũng và trừ bỏ những đặc quyền dành cho các cán bộ cao cấp?

Có thể nói Ðặng Tiểu Bình hoặc Lý Bằng và những lãnh tụ Cộng Sản khác cũng chỉ là những người bình thường. Nhưng mai sau lịch sử có thể coi họ là những kẻ sát nhất tàn bạo. Lý do duy nhất khiến họ có những hành động tàn ác, chính là vì họ được đào tạo trong cái lò Cộng Sản.

Cuộc cách mạng Cộng Sản đầu tiên ở Nga diễn ra trong sắt máu. Một nhóm người do Lenin cầm đầu cướp được chính quyền năm 1917, với khẩu hiệu “Hòa Bình, Bánh Mì”, và “Chính quyền về tay các ủy ban (Xô Viết)”. Nhưng cái chính quyền đó chỉ kiểm soát được một số thành phố, trong khi có hàng trăm cuộc nổi dậy khác chống lẫn nhau và đánh lại chính quyền Xô Viết. Cuộc nội chiến diễn ra trong hai năm. Lenin đã hứa hẹn hòa bình vì biết dân Nga đang chán ngán cuộc chiến tranh thế giới, nhưng sau khi Lenin chịu thỏa hiệp với Ðức để rút nước Nga ra khỏi cuộc chiến thì dân Nga vẫn không có hòa bình. Cuộc nội chiến còn giết chết nhiều người hơn là cuộc chiến tranh thật, chỉ kéo dài thêm một năm nữa là chấm dứt.

Yếu tố quan trọng nhất khiến đảng Bôn Sơ Vích thành công trong cuộc nội chiến ở Nga không phải là chủ nghĩa Cộng Sản - dân chúng phần lớn là nông dân, không ai biết cái chủ nghĩa ấy như thế nào. Nhóm Bôn Sơ Vích cuối cùng đã thắng chỉ vì họ dám dùng những thủ đoạn tàn bạo nhất. Leo Trotsky, người sáng lập Hồng Quân, vốn không phải là một quân nhân, nhưng ông ta hiểu rằng lính cũng sợ chết. Mà đảng của ông thì đã từng chuyên làm công việc khủng bố, đe dọa người khác bằng bạo lực. Cho nên Trotsky đã dọa đám binh sĩ bị cưỡng bách tòng quân bằng cách giết hết những người đào ngũ. Trận đánh ở thành phố Kazan vào Tháng Tám năm 1918 đánh dấu việc áp dụng chiến thuật khủng bố đe dọa Hồng Quân.

Sử gia Niall Ferguson (trong cuốn The War of The World, xuất bản năm 2006) kể rằng ngay sau khi tới Kazan, Trotsky ra lệnh đem 27 đào binh ra bắn ngay bên bờ sông Volga. Sau đó, ông trong mỗi trận đánh cho bố trí súng máy ở phía sau đám quân của ông, hễ thấy tên lính nào tính chạy trốn là bắn chết. Một nhóm quân trong đơn vị nào không chịu đánh nhau thì cả đơn vị bị tiêu diệt luôn. Không một đám quân nào trong các nhóm Bạch Quân có người chỉ huy dám giết người một cách thản nhiên như vậy.

Trận Kazan là một bước ngoặt thay đổi thế cờ trong cuộc nội chiến ở Nga, và Frguson cũng nhận xét, nó cũng là một “dấu hiệu cho thấy sau khi thắng trận thì đảng Bôn Sơ Vích sẽ cai trị dân như thế nào”.

Họ cai trị bằng mọi phương tiện và thủ đoạn tàn bạo. Lenin học vai trò của Robespiere trong cuộc cách mạng Pháp, nhưng tránh được những lầm lẫn của Robespiere, vì ông ta giết nhiều người hơn, một cách thản nhiên, vô tình hơn. Lenin hỏi, “Làm sao có thể làm cách mạng nếu không có một đội hành hình?” Theo Ferguson tìm hiểu, trong mấy năm từ 1918 đến 1920, có 300,000 vụ hành quyết những người dân chống Bôn Sơ Vích. Những đội “cải cách” đi tịch thu thóc của nông dân đã được lệnh giết hết những trung nông cưỡng lệnh. Tháng Hai năm 1921 các thủy thủ ở pháo đài Kronstadt vốn vẫn ủng hộ Cộng Sản đã nổi lên chống Bôn Sơ Vích sau khi đưa ra các yêu cầu bầu cử tự do, báo chí và hội họp tự do mà không được. Lenin đã giết và lưu đầy hết.

Sau này người ta thường nhắc tới những tội ác của Stalin, nhưng cuộc cách mạng Cộng Sản đã bắt đầu đẫm máu từ thời Lenin.

Những lãnh tụ Cộng Sản có thể thản nhiên ra lệnh giết người, có khi hân hoan ra lệnh giết người, chính vì họ đã biến những tư tưởng kinh tế chính trị học của Karl Marx thành một thứ tôn giáo. Ðảng Cộng Sản cho họ đóng vai trò “cứu nhân loại” vì họ tự coi là những người duy nhất “giác ngộ” được hướng đi của lịch sử. Ðó là một thứ niềm tin có tính cách tôn giáo. Khi đã tự tin là mình nắm “chân lý” trong tay, nắm “lẽ phải” trong tay, thì người ta không ngại ngần làm bất cứ hành động tàn ác nào, để “phụng sự chân lý” “giải phóng nhân loại!” Bao nhiêu thanh niên và thiếu nữ đã ôm bom tự sát ở Iraq, ở Afghanistan hoặc Pakistan bây giờ cũng mang niềm tin mạnh như vậy.

Cho nên trong đám người theo chủ nghĩa Cộng Sản chúng ta thấy những kẻ sát nhân cuồng tín nhất. Và trong đó mới có những lãnh tụ như Stalin bỏ mặc cho 4 triệu người Ukraine chết đói chứ không chịu rút lại chính sách tập thể hóa nông nghiệp. Mới có Mao Trạch Ðông phất tay phát động “Bước nhẩy vọt” làm chết hai chục triệu người Trung Hoa, không hề ân hận, lại ra lệnh làm “Cách Mạng Văn Hóa” giết chết thêm hàng chục triệu người khác. Và chỉ trong hàng ngũ Cộng Sản mới có những Hồ Chí Minh nhắm mắt theo Mao cải cách ruộng đất giết hàng trăm ngàn người Việt, mới có Pol Pot làm chết một phần ba dân số Campuchia.

Những Ðặng Tiểu Bình, Lý Bằng ra lệnh giết các thanh niên Bắc Kinh biểu tình ngày 4 Tháng Sáu năm 1989 không một chút ngần ngại, và sau này không bao giờ áy náy ăn năn, vì họ cũng được đào luyện trong môi trường Cộng Sản.

Nhưng chúng ta phải tin rằng trong lịch sử nhân loại, cuối cùng các bà mẹ sẽ thắng. Sẽ có ngày các bà Ðinh Tử Lâm, Trương Tiên Linh, Giang Kỳ Sinh, và 193 các bà mẹ khác sẽ có ngày được thấy những người con của họ đã không chết uổng. Sẽ có ngày người dân Trung Quốc được sống trong tự do dân chủ. Khi đó, những người lãnh đạo quốc gia sẽ là những người bình thường không thể nào chấp nhận việc giết người một cách tàn bạo không cần pháp luật, không cần đạo lý. Khi đó mới thật là đem Ðạo Nghĩa để thắng Hung Tàn - Lấy Chí Nhân mà thay Cường Bạo!

Ngô Nhân Dụng

Công An Quảng Nam Trấn Áp Trí Thức Trẻ

Báo dân trí hôm nay đưa tin về việc một nữ Thạc sỹ bị đuổi việc. Đó là cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh, người trước đó được mời về giảng dạy tại Trường Chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm theo diện thu hút nhân tài của Tỉnh Quảng Nam.

Cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh

http://dantri.com.vn/c20/s20-328622/cho-thoi-viec-nu-thac-si-xuyen-tac-dao-duc-nha-giao.htm
    Quảng Nam: Cho thôi việc nữ Thạc sĩ xuyên tạc đạo đức nhà giáo.

    (Dân trí) - Ngày 1/6, Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Nam đã công bố quyết định cho thôi việc đối với một Thạc sĩ đang công tác trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm.

    Người bị buộc thôi việc là Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Hạnh (28 tuổi), giáo viên giảng dạy môn Văn tại Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong quá trình công tác, cô giáo này đã lợi dụng bục giảng của nhà trường để nói những điều không tốt, không chính xác về nghề giáo, về Đảng và chủ trương pháp luật của Nhà nước.

    Quyết định thôi việc nêu rõ: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh đã vi phạm nghiêm trọng trong việc xuyên tạc đạo đức nhà giáo; sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền những nội dung trái với quan điểm của chính sách Nhà nước; xuyên tạc đường lối của Đảng, chủ trương pháp luật của Nhà nước, vi phạm quan điểm nội dung giáo dục trong việc cập nhập khai thác, truyền bá trang web phản động, phản giáo dục.

    Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Hạnh tốt nghiệp Đại học và bảo vệ luận án Thạc sĩ văn tại Trường Đại học Đà Lạt. Tháng 9/2007, cô Hạnh được nhận vào giảng dạy tại Trường chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm theo diện thu hút nhân tài của tỉnh Quảng Nam.

    Tường Vy
Lý do cho thôi việc là vì Hạnh đã dũng cảm làm chứng cho sự thật, cho công lý mà theo báo chí Nhà nước gọi là “tuyên truyền những nội dung trái với chính sách của Đảng và Nhà nước”.

Sự thật rằng Nguyễn Thị Bích Hạnh chỉ nói về sự thật, về lòng khát khao cho một thế hệ học sinh được học trong tình thương yêu và sự thật. Lý do đằng sau có thể là do Hạnh là một người Kitô Hữu nhiệt thành đối với giáo hội.

Nguyễn Thị Bích Hạnh là một giáo dân sinh ngày 26/2/1982 ở Xứ đạo Vĩnh Hòa, Xã Hợp Thành – Huyện Yên Thành – Tỉnh Nghệ An.

Cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh

Hạnh tốt nghiệp khoa văn Đại học Đà Lạt sau đó tiếp tục học và bảo vệ thành công Luận văn Thạc sỹ văn học đầu năm 2007. Trong suốt quá trình học tập, Hạnh luôn nỗ lực hết mình để lĩnh hội kiến thức mới, học tập đạt kết quả cao.

Hạnh là một người con ngoan của giáo hội, sống đạo đức và có chiều sâu tâm hồn. Hồi còn bé đã liên tục đạt các giải về giáo lý và lớn lên luôn sống trong sáng, yêu việc đi lễ, đọc kinh.

Hạnh là một công dân tốt của xã hội với ý thức luôn luôn đấu tranh cho công lý, cho sự thật và sự thăng tiến của Việt Nam. Nhờ vào năng lực và trình độ của mình, Hạnh đã được mời về giảng dạy tại trường chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm theo diện thu hút nhân tài.

Từ khi đứng trên bục giảng, với kiến thức rộng và ý thức cao về việc lòng tin và sự thật, Cô giáo Hạnh lên án những vấn đề không chính xác trong giáo trình, đồng thời gợi ý học sinh nên mở rộng tìm hiểu kiến thức qua internet. Hạnh đã nêu lên những nhận định của các sử gia, gíao sư, tiến sỹ trong và ngoài nước để học sinh có thể tham khảo.

Cũng vì yêu Chúa, yêu sự thật mà từ khi vụ Tòa Khâm sứ và Thái Hà nóng lên, Hạnh đã theo dõi sát sao và hằng đêm vẫn một mình hiệp thông cùng anh chị em ở Hà Nội. Hạnh không biết rằng an ninh của tỉnh Quảng Nam cũng đã đưa Hạnh vào tầm ngắm nhằm thực hiện ý đồ loại trừ một cô giáo giỏi và có uy tín ra khỏi bục giảng bài.

Hạnh là con nhà nòi.

Bố của Hạnh là ông Nguyễn Quốc Anh, một người rất tài giỏi và có ý chí vô cùng. Ông là một trong những học sinh lớp đâu tiên của Cha Chính Vinh. Ông đã theo học đạo với Cha Vinh ở trường Dũng Lạc và vì theo đạo mà đã chịu đựng suốt 17 năm tù.

Vì lòng tin vào sự thật, vào Thiên Chúa mà Ông Nguyễn Quốc Anh đã phải trải qua nhiều giai đoạn khốn khó với nhiều nhà tù khác nhau. Ông đã từng ngồi tù với rất nhiều người nổi tiếng, trong đó có cụ Vũ Thế Hùng, bố của Linh Mục Vũ Khởi Phụng hiện là Bề Trên của Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội.

Khi còn ở trong tù ông đã say mê nghiên cứu về toán học. Đề tài toán học về “Phương trình vi phân tuyến tính”. Ông và bạn bè đã được bí mật gửi đi ra ngoài và đến các hội đồng của nhà nước từ khi còn ở trong tù. Nhưng đã bị xếp xó nhiều năm.

Sau khi ra tù Ông được Giáo Sư Nguyễn Khắc Viện gửi thư và mời ta thuyết trình nhiều lần về đề tài của mình ở Đại Học tổng hợp Hà Nội nhưng do không đi đúng theo đường lối chính thống như Nhà nước yêu cầu cho nên đề tài của ông vẫn không được thông qua cho đến khi ông mất vào năm 2003 vì ung thư.

Đứng đằng sau quyết định đuổi việc một con người trí thức trung kiên là cơ quan an ninh chính trị của Tỉnh. Nhưng đau đớn là chính các em học sinh bị buộc phải đứng ra làm chứng gian, tố cáo về cô giáo của mình.

Khi chia tay học sinh, cô trò khóc vì tiếc thương và tha thứ cho nhau. Theo Hạnh những tâm hồn trẻ trung ngây thơ đó đã buộc phải đấu tố cô giáo của mình để đạt được một mục đích không trong sáng của những người lớn.

Nền giáo dục Việt Nam rồi sẽ ra sao, đất nước Việt Nam sẽ đi đến đâu khi những người lớn không sòng phẳng với nhau và tiếp tục lấy học sinh làm con cờ cho những tư tưởng chính trị lầm lạc của mình.

Nguồn: http://dcctvn.net/news.php?id=3711

Tâm thư gửi chị Nguyễn Thị Bích Hạnh - Paulus Lê Sơn

Cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh

Thân gửi chị Hạnh!

Trong tình yêu của Chúa, em xin chia sẻ tâm tư và sự cảm mến của em đối với chị. Trong Chúa chúng ta nên một, em không may mắn được gặp chị, được trò chuyện với chị. Nhưng em lại được biết về chị một con người tri thức thật sự, một nhân cách đáng để nhiều con người trong xã hội này phải học hỏi trong đó có em.

Chị thân mến!

Trong những ngày vừa qua chắc hẳn chị đã trải qua rất nhiều những khó khăn, rất nhiều những suy tư về sự "quy kết" mà chính quyền đã áp đặt cho chị.

Chị phải chịu trận cho niềm tin của chị, cho tiếng nói lương tri của một người tri thức trong cái xã hội mà sự dối trá là sản phẩm chính. Sự thật và tâm huyết của một nhà giáo như chị quả thật là hiếm trong xã hội này. Một xã hội mà toàn nói láo, làm láo, báo cáo thì giỏi, lừa bịp dân đen, nên họ cho là bình thường. Còn một "Con Người" thật sự như chị, dám nói lên sự thật, thì đó cho là điều bất bình thường, là một thứ xa xỉ đối với chính quyền.

Chị Hạnh thân mến!

Một con người trẻ trung, trí thức và có tâm hồn như chị thật sự là tấm gương cho những người trẻ phải học tập. Với tấm bằng thạc sĩ văn chương, với những cách nhìn nhận, tư duy đổi mới về con người, về hiện tượng xã hội. Như chính kiểu nói của giáo dục cộng sản "thu hút nhân tài". Chị là một nhân tài mà họ muốn dung nạp. Chị làm việc với họ nhưng chị không đi theo lề phải mà họ đã đặt ra. Chị đã không ngần ngại gợi ra cho một thế hệ trẻ những luồng kiến thức mới, đa chiều để họ tự tìm hiểu, cảm nhận một cách xác thực và chủ động trong xã hội ngày nay, đó là sự tốt đẹp cho một xã hội cần có cách nhìn nhận đúng đắn và khách quan hơn.

Chị thân mến!

Bây giờ chính là thời gian mà chị đang gặp nhiều khó khăn nhất. Nhưng em tin chị không buồn, mà em còn nghĩ rằng, chị đáng tự hào về chính mình, về việc làm nghĩa khí, đầy chất nhân văn.

Với một gia đình công giáo truyền thống, với lòng yêu mến Thiên Chúa hơn hết mọi sự. Chị bị thế lực quỷ dữ trù dập là điều dễ hiểu, dù những việc làm của chị là tốt lành, đó là sự tốt lành trước mặt Thiên Chúa và cũng là sự tốt lành cho xã hội.

Chị hãy tha thứ cho họ về những việc họ làm chị ạ!

Tất cả đều có bàn tay Thiên Chúa làm cho chúng ta, em tin chị cũng nghĩ như vậy và một lòng xác tín, phó thác cho Chúa và Mẹ Maria của chúng ta.

Lại nói về những điều có thể làm cho chị buồn nhất đó là những học trò của chị. Đó là một màn kịch đấu tố chị mà chính học trò của mình thực hiện.. Do ai là kẻ giật giây, vẽ nên bức tranh kịch cỡm này em nghĩ chắc chị biết rõ. Học trò của chị thì chị hiểu chúng như câu nói của Chúa chiên lành "chiên của ta, ta biết chúng và chúng theo ta". Vì sự ngây ngô của các em, vì mưu mô xảo quyệt của cơ chế tội ác nên các em đã trở thành nạn nhân để thực hiện màn kịch đấu tố. Chị ạ! biến cố Thái hà – Toà Khâm Sứ em nghĩ chắc chị còn nhớ rõ, rất rõ. Tại sao đêm hôm khuya vắng mà họ lại "thuê" những thành phần du côn, nghiện ngập, thành phần bất hảo kéo đến đập phá nhà thờ, chửi mắng các cha dcct Thái Hà và Đức Tổng Giuse đáng kính ... Nhưng họ vẫn chối leo lẻo và nguỵ biện rằng đó là "quần chúng tự phát" khi thế giới văn minh "bắt mạch" về tội của họ. Một ngày không xa những học trò của chị sẽ nhận ra được những việc chúng đã làm và những điều tốt lành mà chị dạy cho chúng. Những học sinh này sẽ càng tôn trọng, mến phục tâm hồn và con người chị hơn. Chúng sẽ nhận thấy tội ác của cả một cơ chế chuyên chính, bạo quyền, và chúng sẽ có hành động thật sự để thay đổi cho mặt bằng xã hội không còn chông chênh, hố đen và vực sâu tội lỗi.

Kính mong chị có được sự bình an trong tâm hồn, và cầu xin Thiên Chúa đổ tràn thánh ân, thần khí trong gia đình chị, trên chị. Chúa cùng Mẹ đang mỉm cười và tự hào về chị với những việc chị đã làm theo thánh ý của Ngài. Tất cả anh chị em, tín hữu trong Giáo hội Việt Nam, Hội Thánh của Chúa đang yêu thương và dõi theo bước đi của chị!

Paulus Lê Sơn

Nguồn: http://giaoxuthaiha.org/Web/ContentDetail.aspx?distid=2867

Nói Chuyện Với Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai - Tạp Chí Trẻ

Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai

Tạp Chí TRẺ trong Số Tháng Tư 2009 có bài tường thuật Cuộc Nói Chuyện giữa Phóng Viên Trẻ và Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai. Tôi cảm khái khi đọc bài này, tôi trích đăng mời quí vị cùng đọc.

Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ:

Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas-Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas

Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp, bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm.

Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.

Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau:

Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…

Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang … nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mời ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng. Tôi cúi chào Thiếu Tướng.

Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều …”

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình”

PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”

CTTĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói …”

PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”

CTTĐKGiai: “Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”

CTTĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.”

PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”

CTTĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”

PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian … ở tù của bác bao lâu?”

CTTĐKG: “17 năm thiếu 10 ngày.”

PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”

CTTĐKG: “Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”

PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”

CTTĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”

PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”

CTTĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!

Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.

Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH …”

Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.

Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”

Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.

Thấy ông có vẻ xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”

Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó … ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon.

Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”

Ông trả lời nhẹ nhàng: “Ngon hơn cơm tù”.

Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:

“Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn”.

Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.

PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”

CTTĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”

PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”

CTTĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi, hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.”

PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”

CTTĐKG: “Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”

PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”

CTTĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”

PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết đnh ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”

CTTĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”

PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”

CTTĐKG: “Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể quy trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quý vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước - đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”

CTTĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”

PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”

Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.

Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trongcuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.

Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.

Người viết Phóng Viên Trẻ.