Wednesday, May 20, 2009

Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: ''Chủ nghĩa cộng sản đã tạo nên những con người dối trá!''

Bức tường Berlin đã sụp đổ

VietCatholic News
17 May 2009


ĐỨC QUỐC - Năm 2009 Phương Tây sẽ mừng kỷ niệm 20 năm thoát khỏi hiểm họa cộng sản trên toàn cõi Đông Âu, khởi đầu được bắt đầu bằng các phong trào cầu nguyện đòi dân chủ từ Đông Đức. Trong 20 năm vừa qua bao nhiêu tội ác, bất công, tù tội, giết người … do chủ nghĩa cộng sản gây ra tại Đông Âu được lột trần trước ánh sáng và công lý. Những bản án tố cáo sự tàn ác của cs được trực tiếp và gián tiếp, được người trong cuộc lẫn ngoài cuộc ghi lại trong sử sách nhân loại.

Mới đây nhất lời phát biểu của nữ thủ tướng, Dr. Angela Merkel vào ngày 07/5/2009 dịp nước Đức nhớ lại Phong trào nổi dậy đòi dân chủ tại Đông Đức cộng sản vào năm 1989 chống đối cuộc bầu cử gian lận ngày 07/5/1989 tại Đông Đức, là bản kết án hùng hồn nhất về một chủ nghĩa bất nhân, một chủ nghĩa gây bại hoại cho nhân loại: "Chủ nghĩa cộng sản đã tạo thành con người dối trá". Bà Merkel kết án mạnh mẽ: "Đông Đức đã trở thành một hệ thống nhà tù kiểm soát chặt chẽ người dân nhất thế giới". Tuy nhiên điều phá hủy được hệ thống vô luân này chính là niềm khát khao công lý và sự thật của người dân Đức, đó chính là "nền tảng cho nền dân chủ" , chúng ta đang hưởng được tự do và công lý trong 20 năm qua, hôm nay "chúng ta không thể và không muốn quên đi tất cả những bất công đã xảy ra do cộng sản gây ra" , những nhận định sắc bén này bà Merkel muốn nhắc nhở cho người dân Đức và cho thế giới tự do.

Nếu một nhân vật nào đó nói như thế thì chưa chắc có thể dựa trên một nền tảng chứng minh chắc chắn, nhưng với Angela Merkel, một người đã sống trong lòng cs và được đào tạo lớn lên từ đây thì không có lời nào chứng minh hùng hồn hơn được bằng những phát biểu của bà nói về tội ác cộng sản.

Cứ nhìn lại lịch sử trước đây 20 năm tại Đông Âu thì rất rõ ràng, chỗ nào cũng giăng đầy bảng đỏ chữ trắng tuyên truyền như “Chủ nghĩa Mác - Lê Nin muôn năm”, “Chủ nghĩa Mác - Lê Nin bách chiến bách thắng”, “Đảng cộng sản muôn năm”… Muôn năm như thế để cộng sản ác độc tạo ra nhiều thế hệ nhằm ca tụng một chủ nghĩa dối trá phi nhân hơn 70 năm trời. Tội ác cs đã gây ra những con số chết chóc khủng khiếp cho chính dân chúng của họ, có lẽ chỉ có ác thú mới làm được như sử gia Rudolph J. Rummel đã nêu ra trong sách "Death by Government":

Cộng sản đấu tố dã man địa chủ
trong việc cải cách ruộng
- Cộng sản Nga giết 61.911.000 người.
- Cộng sản Trung Hoa giết 35.236.000 người.
- Cộng sản Khmer đỏ giết 2.035.000 người.
- Cộng sản Việt Nam giết 1.670.000 người.
- Cộng sản Ba Lan giết 1.585.000 người.
- Cộng sản Nam Tư giết 1.072.000 người.

Nhìn về VN với một ví dụ rất điển hình của sự khát máu và tàn ác qua tên đồ tể của "Cải cách ruộng đất" Đặng Xuân Khu (1907-1988), tự xưng là Trường Chinh, được sự đồng ý của Hồ Chí Minh cướp đất gây đại họa giết 172.000 người, và hơn 500.000 nạn nhân vô tội khác do chính tên đầu sỏ Trường chinh gây ra. Bao nhiêu cảnh giã man giết người trong cải cách ruộng đất với khẩu hiệu: "Trí, phú, địa, hào đào tận gốc" chẳng khác gì hơn sự diệt chủng rùng rợn của bọn cs Khmer đỏ, thế mà csVN còn dựng lên tượng đài của tên đồ tể Đặng Xuân Khu tại một quảng trường lớn thuộc huyện Xuân Trường để tuyên dương công trạng giết người tàn ác này.

Nhận định của nữ thủ tướng Angela Merkel về cs Đông Đức không những có cơ sở chắc chắn, mà còn được nổi bật khi so sánh với lời tuyên bố của ông Mikhail Gorbachev: "Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày nay tôi phải đau buồn mà nói rằng "cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo".

Tại VN dịp kỷ niệm 55 năm ngày mở đường Trường Sơn cũng như kỷ niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã có những bài báo từ Nga hé lộ cho biết công lớn của người Nga ở Điện Biên. Tin mới nhất từ tác giả Sergey Balmasov phê phán cs Bắc Việt đã vô ơn quên hẳn những tình cảm về thời được Nga giúp trong cuộc chiến - theo tác giả, "chiến thắng vang dội (đó) không thể có nếu thiếu sự ủng hộ từ Nga". Lý do được tác giả dẫn chứng rằng "Pháo phòng không của Liên Xô đã tiêu diệt hoàn toàn hệ thống phòng thủ của Pháp" ở cứ điểm 17 nghìn quân tại Điện Biên.

csVN vẫn dấu diếm và dối trá trong sự việc lớn này tại Điện Biên và dành công lớn cho chính mình.

Trong những ngày vừa qua dân cư trên mạng đã khám phá ra một điều rất thú vị có thể chứng minh csVN đang dã tâm dâng hiến đất cho Tàu cộng qua trang website www.vietnamchina.gov.vn. Hiểu nôm na là trang website kết nghĩa anh em với Tàu cộng lấy tên miền gov.vn do chính phủ Việt Nam làm quản lý admin, nhưng nội dung đang phổ biến bằng tiếng Việt cho biết rất nhiều miền đất và hải đảo VN đang thuộc về người Tàu.

Có thể csVN đang dối trá toàn dân trong việc hiến dâng bờ cõi thiêng liêng của tổ quốc cho ngoại bang chăng?

Về dự án bauxite tại Tây Nguyên, đang được toàn dân thuộc mọi tầng lớp, kể cả Võ Nguyên Giáp chú ý nói đến những hiểm họa về môi sinh và bệnh tật, trong khi đó csVN lại kêu gào thế giới về thảm trạng Da Cam trong chiến tranh. Liệu csVN có đảm bảo những thảm trạng dị tật từ bauxite theo thời gian không? Vì sao các quốc gia khác phải đóng cửa các mỏ quặng bauxite của họ? Chắc chắn thảm họa bauxite sẽ to lớn hơn chất độc da cam.

csVN ngu dại hoặc cố tình dối trá dân chúng khi không để ý đến tin tức từ ChinaDaily, Xinhua đưa đi: "Ngày 11.5.2009, hội đồng Nhà nước Trung Quốc thông qua kế hoạch ba năm, hỗ trợ ngành công nghiệp khai thác chế biến kim loại màu (nhôm, đồng …) theo hướng tái cấu trúc và hiện đại. Theo đó, sẽ thành lập 3 – 5 doanh nghiệp chủ đạo trong ngành, và đến năm 2011 có 10 doanh nghiệp hàng đầu nắm đến 90% sản lượng đồng, 70% sản lượng nhôm, 60% kẽm … Các nhà máy nhôm, đồng… ô nhiễm sẽ bị đóng cửa, chính phủ (Tàu) khuyến khích và tài trợ vốn cho các doanh nghiệp đầu tư khai thác mỏ ở nước ngoài, kể cả hình thức liên doanh liên kết". (http://www.sgtt.com.vn/detail30.aspx...009/0512/51324).

Bauxite tại Tây Nguyên đang là ngòi bom nổ chậm đổ xuống dân tộc VN, mà csVN đang giã tâm tiếp tay với Tàu cộng.

Hẳn là không có sự ngẫu nhiên khi các cuộc cầu nguyện đòi Công Lý và Sự Thật được phát xuất từ Thái Hà – Hà Nội và can đảm hơn người dân Thái Hà cùng ghi danh “HÃY CỨU LẤY TÂY NGUYÊN KHỎI THẢM HOẠ BAUXITE ĐỎ”, điều này đúng với nhận định thêm của thủ tướng Angela Merkel vào cuối bài diễn văn: "Hậu quả tàn ác của cs đẩy con người vào đường cùng là dối trá với nhau, tuy nhiên khi sự dối trá được phơi bầy và người dân can đảm moi ra những điều gian lận (trong bầu cử) thì dẫn họ đến các phong trào đòi hỏi công lý. Và cuối cùng người dân Đông Đức biết kết thúc với trò chơi dối trá này. Như thế người dân can đảm tìm đến nhau, tạo dựng các phong trào nói về công lý và sự thật".

Cuối cùng, hy vọng ông Nguyễn Tấn Dũng còn lương tâm và lòng tự trọng nghĩ lại câu nói của chính mình để xứng đáng với chức vụ thủ tướng và nhiều hơn nữa đừng dối trá cướp từng mảnh đất nhỏ của người dân VN để rồi hèn nhát dâng hiến bờ cõi tổ quốc cho giặc Tàu ngàn năm: "Tôi xin nói suy nghĩ riêng của mình. Tôi yêu nhất, quý nhất là sự trung thực, ghét nhất, giận nhất là sự giả dối".

Nguồn: http://www.vietcatholicnews.com/News/Html/67266.htm


Miếng Mồi Ngon Của Việt Cộng Nhưng Khó Nuốt? - Luật sư Lê Duy San

    Người Việt Hải Noại: Miếng Mồi Ngon Của Việt Cộng Nhưng Khó Nuốt?
Luật sư Lê Duy San

- Việt Cộng đánh gía Người Việt Hải Ngoại như thế nào ?
- Những chính sách của Việt Cộng để dụ dỗ Người Việt Hải Ngoại.
- Những trò lưu manh của Việt Cộng để phá hoại sự đoàn kết của Người Việt Hải Ngoại.

Sau khi nuốt trọn được miền Nam Việt Nam vào năm 1975 và áp đặt một chế độ độc tài đảng trị trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, bọn Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả trăm ngàn quân nhân và công chức của chế độ VNCH mà chúng coi là thành phần tối nguy hiểm vào nhà tù mà bọn chúng gọi là trại cải tạo. Chưa đủ, để tịch thu nhà cửa và ăn cướp tài sản của đồng bào, chúng còn đẩy cả triệu đồng bào mà chúng coi là thành phần hút máu mủ nhân dân hoặc ăn bám xã hội lên rừng núi mà chúng gọi là vùng kinh tế mới hoặc ra biển cả làm mồi cho cá.

Nhưng sau một thập niên quản trị đất nước (1975-1985) với chính sách hộ khẩu và hợp tác xã, chúng đã đưa Việt Nam vào danh sách những nước nghèo đói nhất thế giới. Để cứu đói và cũng là để cứu đảng, chúng đã phải cởi trói chính sách kinh tế của chúng phần nào, cho phép dân chúng làm ăn, buôn bán nhỏ, chấp nhận tiền bạc cũng như đồ đạc của người Việt Hải Ngoại gửi về cho thân nhân.

Mặc dù cởi trói đã được 5 năm (1985-1990) tình trạng nghèo đói của đất nước vẫn không khá hơn, vì bọn Việt Cộng vẫn ngoan cố, nên vẫn bị Hoa Kỳ cấm vận. Nhận thấy, tinh thần chống Cộng của người Việt đã giảm sút, không còn cao như lúc Măt Trận Hoàng Cơ Minh mới ra đời, nhất là từ khi ông Hoàng Cơ Minh đã bị Việt Công giết. Việt Cộng không còn lo ngại gì nữa, nên đã xuống nước và chấp nhận bang giao với Hoa Kỳ để được hủy bỏ cấm vận.

Kể tứ năm 1991, sau khi được Hoa Kỳ hủy bỏ cấm vận, các nước ùn ùn vào đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên ăn được tiền của ngoại quốc cũng không phải là dễ. Người ngoại quốc nào bỏ tiền ra đầu tư ở Việt Nam cũng mong mang được lợi nhuận về nước. Họ đầu tư ở Việt Nam, chẳng qua họ thấy nhân công ở Việt Nam rẻ chứ không phải vì họ yêu nước Việt Nam. Trái lại, bọn Việt Cộng nhận thấy, người Việt Hải Ngoại dù ra đi vì bất cứ lý do gì, cũng không bao giờ ghét bỏ tổ quốc. Ai mà chẳng sinh ra ở Việt Nam ? Ai mà chẳng có họ hàng, thân thích, bạn bè ở Việt Nam ? Chỉ số tiền hàng năm Người Việt Hải Ngoại đem về tiêu ở Việt Nam hoặc gửi về giúp đỡ thân nhân, bạn bè và người nghèo khổ cũng đã lên tới 4 tỷ đô la. Chỉ cần 1% số người này đem tiền về Việt Nam làm ăn, hay đem chất xám về giúp nước, mỗi năm Việt Cộng sẽ kiếm thêm được bao nhiêu tỷ nữa? Đây qủa là một miếng mồi ngon của Việt Cộng.

Chính vì vậy, ngay từ khi Hoa Kỳ vừa hủy bỏ cấm vận, bọn Cộng Sản đã dùng ngay chiêu bài Hoà Hợp, Hòa Gỉai để dụ dỗ những người Việt Hải Ngoại vẫn còn thơ ngây về hợp tác hoặc làm ăn với chúng. Thực ra bọn Việt Cộng có bao giờ thực tâm muốn Hòa Hợp, Hòa Gỉai với ai. Chúng chỉ muốn Hoá Giải những sự chống đối, chúng chỉ muốn lùi một bước để rồi sẽ tiến hai bước. Chỉ tiếc rằng người Việt Quốc Gia, vì ngu dốt, vì ham danh, hám lợi, nên dù đã từng bị lừa bịp nhiều lần rồi mà vẫn bị lừa. Tuy nhiên số người này không phải là nhiều, nên ngày 26/3/04, Bộ Chính Trị của Việt Cộng đã phải ban hành nghị quyết 36 đối phó với người Việt Hải Ngọai.

A. Việt Cộng đánh giá người Việt Hải Ngoại như thế nào?

Sau 15 năm sống còn nhờ vào tiền của người Việt Hải Ngoại gửi về, bọn lãnh đạo Việt Cộng không còn dám coi thường những người mà bọn chúng trước kia gọi là những thành phần đĩ điếm, tay sai đế quốc Mỹ nữa, trái lại chúng “đánh giá” rất cao, coi cộng đồng người Việt Hải Ngoại là “là khúc ruột ngàn dậm, là một bộ phận không thể tách rời khỏi dân tộc”.

Chúng đã phải nhìn nhận 80% những người Việt Hải Ngoại, không những đã ổn đinh được cuộc sống mà còn có vị trí trong đời sống kinh tế, xã hội và chính trị trong nước họ định cư. Nhiều người có tiềm lực kinh tế, có khả năng quan hệ với các doanh nhân bản xứ để làm cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước cũng như cho bọn chúng.

Tuy nhiên, chúng cũng nhận thấy rằng hầu hết người Việt Hải Ngoại không tin vào sự đổi mới của chúng, không tin vào sự Hòa Giải, Hoà Hợp của bọn chúng, không những thế, nhiều người khác vẫn còn chống đối và vạch trần sự lừa phỉnh, bịp bợm của bọn chúng.

B. Những chính sách của Việt Cộng để dụ dỗ người Việt Hải Ngoại.


Nhận thấy tầm quan trọng của người Việt Hải Ngoại cũng như tinh thần chống Cộng của người Việt Hải Ngoại vẫn còn mạnh mẽ, trong nghị quyết 36, bọn Việt Cộng đã phải đưa ra một số chính sách đối phó để đánh phá và lôi cuốn những thành phần ham danh, hám lợi nhưng vẫn chưa rứt khoát tin tưởng ở chúng.

1. Biện pháp I: Chiêu bài Hoà Hợp, Hoà Giải.

Như đã trình bầy ở trên, thực ra bọn Việt Cộng không bao giờ chúng thực tâm muốn Hoà Hợp, Hoà Giải vì bọn chúng đang ăn trên ngồi trốc, đang nắm độc quyền quản trị đất nước, đời nào chúng lại dại dột nhường ghế, chia quyền cho người khác? Chẳng qua đây chỉ là một phương thức để Hoá Gỉai những sự chống đối của những thành phần chống đối nhưng không có lập trường chống Cộng vững chắc, còn ham danh, hám lợi, cũng như để dụ dỗ những thành phần trí thức ngu muội, chỉ biết chủ nghĩa Cộng Sản qua sách vở mà không hề biết trên thực tế, chủ nghĩa Cộng Sản đã được bọn chúng thực thi ra sao.

Biện pháp Hoà Hợp, Hoà Giải đã được bọn chúng đem ra áp dụng từ lâu. Từ năm 1945-1946, chúng cũng đã đem ra áp dụng để thành lập chính phủ Liên Hiệp. Rồi năm 1974-1975, chúng cũng đưa ra để dụ dỗ những người quốc gia nhẹ dạ. Năm 1990-1991 chúng cũng đưa ra và cho đến bây giờ chúng cũng vẫn đưa ra. Tóm lại, bất cứ lúc nào chúng muốn hóa giải việc gì, là chúng lại đem chiêu bài Hòa Hợp, Hòa Giải ra áp dụng. Bởi vì chúng biết lòng căm thù của người Việt Hải Ngoại mỗi ngày một giải đi theo thời gian. Vì vậy chiêu bài Hoà Hợp, Hoài Gỉai của chúng lúc nào đem ra áp dụng cũng vẫn có gía trị.

2. Biện phái II: Chính sách Giao Lưu Văn Hóa.

Nhược điểm của người Việt Hải Ngoại, tức những người xa quê hương nhớ nhà, nhớ quê hương. Càng xa lâu, càng nhớ nhiều. Lợi dụng nhược điểm này, chúng tung ra hải ngoại sách báo, băng nhạc và phim ảnh gọi là Giao Lưu Văn Hóa.

Lúc đầu, chúng còn đưa ra nhưng phim ảnh có mục đích tuyên truyền. Nhưng sau chúng thấy bất lợi vì không nhưng không được đồng bào Hải Ngoại hưởng ứng mà còn chống đối kịch liệt nên sau chúng chỉ đưa ra những phim ảnh vô thưởng, vô phạt, không những hoàn tòan có tính cách giải trí, mà nhiều khi còn cố ý chỉ trích chính quyền, nhưng chỉ về vấn đề tham nhũng, một vấn đề không thể dấu diếm được để tỏ ra ta đây (chính quyèn Cộng Sản) cũng tự do, dân chủ để lừa gạt những người Việt Hải Ngoại nhẹ dạ, dễ tin.

Thực ra có bao giờ chúng chịu Giao Lưu Văn Hóa với người Việt Hải Ngoại? Thử hỏi đã có cuốn sách nào nói về tự do, dân chủ, nói về nhân quyền của ngoại quốc, chứ đừng nói tới của người Việt Hải Ngoại, được chúng cho lưu hành trong nuớc? Ngay người trong nước, chỉ cần dịch một tài liệu của ngoại quốc rồi đăng trên diên đàn điện tử cũng bị coi là phản động và cho đi tù.

3. Biện pháp 3: Cho hưởng một vài quyền lợi.


Để dụ dỗ người Việt Hải Ngoại về nước du lịch hay làm ăn, hợp tác nhiều hơn, Việt Cộng đề ra nhiều chính sách, chủ trương nhằm tạo điều kiện dễ dàng như về gía cả, không còn phân biệt người trong nước với người nước ngoài. Chấp thuận cho người Việt Hải Ngoại mua nhà đất trong nước với một vài điều kiện nào đó. Quy chế miễn visa, miễn thị thực chữ ký. Cho phép người Việt Hải Ngoại được phép kinh doanh hoặc mở một vài công ty cũng như hợp tác vào vài hoạt động khoa học, văn hóa v.v…Vinh danh một số trí thức và thương gia về nước phục vụ cho chúng.

Cả ba biện pháp trên đều thất bại bởi vì chúng không có thực tâm mà chỉ là để dụ dỗ, tuyên truyền. Hơn nữa, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam bây gìơ đã hết thuốc chữa. Tham nhũng từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, không ai bảo được ai, nên số người Việt Hải Ngoại về nước làm ăn hay kinh doanh mỗi ngày một ít. Tuy nhiên bọn chúng vẫn giả ngây, giả ngô và tổ chức một cuộc hội thảo tại thành phố Saigon ngày 28/12/08 giữa bọn chúng và một số Việt Gian Hải Ngọai trong số đó có Giáo Sư Tạ Văn Tài để tìm hiểu nguyên nhân dưới đề tài “Làm sao để phát huy nguồn lực trí thức Việt Kiều đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước ?...”

Gần 30 bài tham luận từ nước ngoài đã được gửi về đóng góp ý kiến và 16 tham luận viên đã tới để trực tiếp trình bày. Nhưng những lý do, những nguyên nhân thực sự như: vì chế độ hiện tại của Việt Nam là một chế độ độc tài chuyên chế, một chế độ trị nước không phải bằng luật pháp mà là một chế độ công an trị, vì chế độ hiện tại của Vịệt Nam là một chế độ không tôn trọng nhân quyền , không đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết v.v… nên không ai muốn về nước giúp cho một chế độ như vậy. Các tham luận viên chỉ nói tới những lý do vớ vẩn như vì quen sống ở những nước văn minh, có đủ tiện nghi vật chất, không được đãi ngộ xứng đáng, môi trường làm việc không được đầy đủ phương tiện kỹ thuật, còn nghi ngờ về cách đối xử “giở giăng, giở đèn” của nhà cầm quyền VN v.v…

C. Những chiến thuật của Việt Cộng để phá hoại Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

Không chiêu dụ được, không dụ dỗ được, bọn Việt Cộng đã dùng những chiến thuật sau để phá hoại Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

1. Chiến thuật “Tầm ăn dâu”.

Phần lớn các Hội Đoàn lập ra đều có mục đích xã hội và vô vị lợi. Vì thế chúng thường dùng chiêu bài làm việc xã hội, từ thiện để dễ dàng được các Hội Đoàn hỗ trợ. Rồi từ đó, chúng dần dần để lộ ra bộ mặt thật của chúng để làm cho Hội Đoàn đã hỗ trợ chúng bị chia rẽ để chúng dễ dàng xâm nhập và quậy phá.

Các Hội Đoàn, lúc đầu thường do các người có lập trường chống Cộng, có nhiệt huyết lập ra, nên lúc đầu sự hoạt động rất hăng say và có quy củ. Nhưng sau một thời gian hoạt đông bắt đầu mệt mỏi, nên sự hoạt động cũng lỏng lẻo. Bọn Việt Cộng bắt đầu xâm nhập hoặc cho tay sai vào nằm vùng, chờ cơ hội hoạt động. Lúc đầu có thề chúng chỉ già vờ vô tình đưa ra một vài lời tuyên bố có lợi cho Cộng Sản, rồi sau đó, chờ cơ hội thuận tiện, chúng có thể đưa ra cả một bài tuyên truyền cho Cộng Sản. Thế là Hội đoàn đó có thể tách ra làm hai hoặc tan rã hoặc ở trong tình trạng tê liệt.

Trên các diễn đàn điện tử, báo chí cũng vậy, chúng cũng luôn luôn tim cách xâm nhập để gây chia rẽ và xáo trộn.

2. Chiến thuật “Cá mè một lứa”

Sau ngày 30/4/1975, bọn chúng đã ăn cướp được của đồng bào miền Nam không biết bao nhiêu tiền của nhờ vào chính sách đổi tiền, đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, vùng kinh tế mới và sau này, ăn cướp đất đai của đồng bào, chúng trở thành bọn tư bản đõ. Nhưng để dân chúng nửa tin, nửa ngờ, chúng tung ra một danh sách có cả tên của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũ mà nhiều người biết chắc không thể nào giầu có được.

Đối với những người Việt Hải Ngoại chống Cộng cũng vậy. Chúng luôn luôn tìm cách ly gián và gây sự nghi ngờ lẫn nhau.

Thực vậy, số người Việt Hải Ngoại chống Cộng đã hiếm, mà số người có khả năng chống Cộng bằng ngòi bút lại càng hiếm hơn. Vì vậy, một người chống Cộng, khi đọc bài của một người khác thấy họ có tinh thần chống Cộng rất cao thì rất mừng, săn sang kết nạp, mời mọc tham gia, công tác. Nhưng sau một vài bài chống Cộng, họ viết một bài cũng chống Cộng, nhưng trong đó có lồng vào một vài câu hay một vài đọan họ đả kích một người quốc gia có uy tín hay có lập trường chống Cộng cao. Nếu ta vì quá tin tưởng họ, không đọc kỹ mà phổ biến thì sự việc sẽ ra sao?

Những người chống Cộng thực sự và họ biết ta, không bao giờ họ lại ngây thơ mà chỉ trích ta, cùng lắm họ chỉ lưu ý ta mà thôi hoặc nếu cần, họ sẽ viết một bài để vạch mặt thẳng tên Việt Công nằm vùng đã viết bài kia. Nhưng những người chống Cộng khác, họ không biết ta, tính lại nóng nẩy sẽ chụp ngay lấy để mạt sát, để chụp mũ. Cho nên chúng ta đừng lấy làm ngạc nhiên khi thấy người chống Cộng thì ít mà kẻ chống người chống Cộng lại nhiều. Vì thế, bọn Việt Cộng đã khai thác triệt đề khía cạnh này để đưa Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại tới chỗ “Cá Mè Một Lứa”, chẳng còn biết ai là người chống Cộng, ai là Việt Gian Cộng Sản nữa.

Mong rằng tất cả những người Việt Hải Ngoai có tinh thần chống Cộng cao, hãy đề cao cảnh giác và luôn luôn phải bình tĩnh, đừng để xa vào cái bẫy của Việt Cộng.

Luật sư Lê Duy San


Tuesday, May 19, 2009

ĐẠN MÃ TỬ - Đỗ Thái Nhiên

Đỗ Thái Nhiên

Đạn mã tử là đạn giả. Khi bị kích hỏa, đạn mã tử gây tiếng nổ như đạn thật nhưng “người bị bắn” không hề bị thương. Lý do: đạn mã tử chỉ có thuốc súng chứ không có đầu đạn.

Trong quân đội, người ta trang bị cho tân binh đạn mã tử để “tiếng nổ mã tử” giúp chàng lính mới cảm thấy hồi hộp và ly-kỳ-như-thật trong trường hợp thực tập đánh trận giả. Như vậy, đạn mã tử là một sản phẩm quân sự. Nó chỉ đắc dụng đối với giờ học tập chiến thuật của chương trình huấn luyện quân sự. Thế nhưng thời gian gần đây, chế độ Hà Nội đã mang đạn mã tử đi vào thế giới của kịch nghệ chính trị. Bên ni là quân Hà Nội. Bên nớ là quân Bắc Kinh. Đôi bên giao tranh kịch liệt. Tiếng đạn mã tử nghe đinh tai nhức óc. Một số người Việt thiếu kinh nghiệm trận mạc. Họ không phân biệt được sự khác nhau giữa đạn mã tử và đạn thật. Vài người,do sự hối thúc của lòng yêu nước, toan tính trở về Việt Nam để gia nhập đội quân "mã tử" của Hà Nội. Câu chuyện “Đạn Mã Tử Và Sân Khấu Chính Trị” được trình bày như sau:

Ông Đặng Công Ngữ hiên là giám đốc sở Nội Vụ Đà Nẵng. Ngày thứ bảy 25/04/2009, chế độ Hà Nội đã bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch huyện đảo Hoàng sa. Nhân dịp này, ông Đặng Công Ngữ tuyên bố trước báo chí: “Đây là mãnh đất thiêng liêng của tổ quốc, là máu thịt của tôi. Chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ toàn ven chủ quyền lãnh thổ biển đảo.” Khi được báo chí hỏi về những công tác dự tính trong tương lai, ông Đặng Công Ngữ trả lời: “Chúng tôi đã có sẳn những kề hoạch, nhưng làm đến đâu sẽ nói đến đấy vậy.”

Trước đó, ngày 24/04/2009, tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Duy Nhất, phó giám đốc sở Nội vụ Đà Nẳng đã giới thiệu viện bảo tàng Hoàng sa với báo chí. Viện bảo tàng này có mục đích sưu tìm tài liệu và đang có “Hơn 500 hiện vật, thư tịch hiện có ở bảo tàng Hoàng sa, những câu chuyện từ các nhân chứng, sách báo, kỷ yếu…về Hoàng Sa sẽ giúp chúng tôi giới thiệu với du khách.” (Lời Nguyễn Công Ngữ, trích báo Lao Động của CSVN 24/04/09).

Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa làm việc theo kiểu “Làm tới đâu nói tới đấy”. Nói đúng hơn, CSVN không có chương trình làm việc dành cho Hoàng Sa Ông chủ tich này chỉ hứa bâng quơ rằng sẽ “Đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biển đảo”, thay vì mạnh mẽ cam kết “Quyết tâm đánh Tàu, lấy lại Hoàng Trường Sa đã bị Trung Quốc cưởng chiếm.” Bên cạnh cái gọi là “Nhà cầm quyền” Hoàng Sa là viện bảo tàng Hoang Sa. Bảo tàng này lập ra chỉ để giới thiệu Hoang Sa với du khách. Thế nhưng nếu du khách yêu cầu hướng dẫn họ di thăm Hoàng Sa thì Hà Nội bó tay. Nhìn chung, chức chủ tịch huyện đảo Hoang Sa và viên bảo tàng Hoàng Sa hiển nhiên chỉ là hai viên đạn mã tử. Có tiếng nổ nhưng phe địch không hề bị tổn thất.

Hai viên đạn mã tử vừa kể làm dư luận liên tưởng đến vụ án báo xuân Du Lịch. Được biết, nhân dịp Tết Nguyên Đán 2009, báo Xuân Du Lịch thuộc bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch đã đến tay người đọc. Thay vì tập trung vào nội dung vui Xuân như mọi báo xuân quốc doanh khác, Xuân Du Lịch đã bất ngờ nêu cao ý chí chống Trung Quốc xâm lươc. Nổi bật là bài viết “Tản Mạn Cho Đảo Xa”. Tính chất độc đáo của bài viết này nằm ở chỗ Trung Bảo (Tác giả của bài viết) đã diễn tả lòng yêu nước bằng thái độ trang trọng của Trung Bảo khi nhặt được tờ truyền đơn chống Tàu do một đồng bào Việt Nam nào đó bỏ lại trên lề đường đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc tại Saigon. Trung Bảo viết:

“Một năm sau, tờ giấy khổ A4 với dòng chữ vi tính: “Hoàng Sa-Trường Sa thân yêu là của Việt Nam” cùng vài chữ viết tay nguệch ngoạc: “09/12 ngày lịch sử” giờ đây đã ngã màu. Tờ giấy nầy của một bạn trẻ nào đó, tôi nhặt được trên lề đường Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc trong những ngày đẹp trời cuối năm 2007. Tôi đem nó về dán lên tường nhà mình như một kỷ niệm đẹp. Cái ngày 09/12/2007 có lẽ chẳng bao giờ tôi quên được. Quên sao được cái không khí bừng bừng khí thế. Quên sao được khi tình cờ tôi được dứng lẩn vào cùng những người tạo nên những ngày lịch sử.”

Thế nhưng những đồng bào yêu nước mà Trung Bảo tôn kính lại bị đảng CSVN gọi là “kẻ xấu”. Xấu chỉ vì không chấp nhận cùng với CSVN. Chứng kiến tình huống nghịch lý đến điên đảo kia, Trung Bảo bực dọc lý luận:

“Nếu có “kẻ xấu” nào đó “kích động” người ta đi biểu tình vì yêu nước, ta nên tôn trọng những kẻ xấu này. Ngược lại khi “người tốt” tìm cách ngăn cản sự biểu lộ đầy phẩn uất một cách chính đáng của người dân vì chứng kiến đất mẹ bị xâm phạm thì hẳn những kẻ vẫn mạo xưng là “người tốt” nầy cần phải được xem lại”.

Do các sự kiện trinh bày ở trên, ngày 14/04/2009, ông Lê Doãn Hợp, bộ trưởng bộ Thông Tin – Truyền Thông của CSVN đã ký lệnh tạm đóng cửa báo Du Lịch ba tháng. Trước vụ Xuân Du Lịch CSVN đã không nương tay trong việc đánh đập, bắt bớ giam cầm những người Việt chống bành trướng Bắc Kinh. Điển hình là các vị: nhà giáo Vũ Hùng, Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Blogger Điếu Cày… Bài viết này nhắc lại vụ báo Xuân Du lịch như môt nhấn mạnh rằng: Chỉ 10 ngày sau khi trừng phạt Xuân Du Lịch về “Tội chống Tàu xâm lược”, CSVN lại quay ra trình diễn vỡ tuồng chống Tàu theo kiểu: Bổ nhiệm chức vụ chủ tịch Hoàng Sa và bảo tàng viện Hoàng Sa. Tại sao CSVN lai phải giả vờ chống Tàu? Sau đây là bốn lý do:

Một là giả vờ chống Tàu vì không dám chống thật. Nói đúng hơn, CSVN đã dứt khoát chọn con đường thà mất nước còn hơn mất đảng.

Hai là giả vờ chống Tàu nhằm làm dịu đi lòng căm phẩn của nhân dân Việt Nam trước thái độ xâm lăng hống hách của người Tàu.

Ba là chống giả vờ chống Tàu với hy vọng dư luận quốc nội và quốc tế tưởng lầm rằng CSVN thực sự chống Tàu. Nhận định lầm lẩn kia là cơ hội giúp CSVN rửa mặt, rửa đi phần nào những vết nhơ đang hằn trên trán của những kẻ bán nước cầu vinh.

Bốn là giả vờ chống Tàu để độc chiếm sân khấu “Chống Tàu Cứu Nước”. Từ vị trí độc chiếm vừa kể, CSVN thực hiện hai gian mưu. Gian mưu thứ nhất: nhân danh nhà cầm quyền chống Tàu, CSVN sẽ tận tụy bảo vệ quân xâm lược Tàu bằng cách thẳng tay đàn áp những người Việt yêu nước với lý do những người này chống Tàu nhưng sai đường lối và chánh sách chống Tàu của đảng. Gian mưu thứ hai: thực hiện gian mưu thứ nhất tức là CSVN đã lập được công lớn đối với người Tàu. Từ đó, để thưởng công cho các quan thái thú thế kỷ 21, Trung Quốc sẽ bảo vệ vị trí thống trị của CSVN đối với xã hội Việt Nam ngày càng tích cực hơn.

Nhìn vào lịch sử của đảng CSVN, người khảo sát lịch sử nhận ra rằng do nhu cầu làm tay sai cho ngoại bang đây là lần thứ hai đảng CSVN ra tay giết hại đồng bào Việt Nam. Lần thứ nhất: năm 1945, CSVN thành lập Mặt Trận Việt Minh, kêu gọi toàn dân hợp lực chống thực dân Pháp. Nhưng sau đó chẳng bao lâu CSVN lại tiêu diệt người Việt yêu nước để có độc quyền đẩy Việt Nam đi vào con đường quốc gia vệ tinh của Nga và của Tàu. Lần thứ hai: năm 2009 CSVN đã lộ nguyên hình họ là chế độ độc tài phi chánh thống đang cai trị Việt Nam với tư cách là những quan thái thú của Tàu. Giới thái thú này ngày càng hiểm ác trong nổ lực thủ tiêu tất cả người Việt Nam nào dám chống lại ý đồ bành trướng của Bắc Kinh.

Dư luận thường cho rằng CSVN ngày nay quả thực một đảng xã hội đen. CS xem hoạt động chính trị chỉ là phương tiện để CS cưởng đoạt tài sản của toàn xã hội. Thực ra suy nghĩ như vừa kể là có phần khoan hồng đối với CSVN. Băng đảng độc ác hàng đầu là Mafia. Ngay cả Mafia, họ chỉ kiếm tiền trong các lãnh vực buôn lậu ma túy, rượu mạnh, cờ bạc, nhà đất … Những gì Mafia làm, CSVN đều đã làm. Riêng trong trong môi trường buôn dân, bán nước, Mafia chưa đáng là học trò của CSVN. Chưa có chế độ nào trên thế giới, ngoại trừ chế độ Hà Nội, người ta một mặt mở cửa biên giới mời gọi quân xâm lăng tràn ngập lãnh thổ. Mặt khác vừa giả vờ dùng đạn mã tử chống xâm lăng, vừa thẳng tay sát hại những người yêu nước.

Đỗ Thái Nhiên


CỨU NƯỚC - Đỗ Thái Nhiên


Đỗ Thái Nhiên

Ngày 09/03/2009, báo Lao Động của CSVN loan tin: Ngày 04/03/09, tại Hà Nội Ban Thường Trực Ủy Ban Trung Ương MTTQVN và quân chủng Hải Quân đã thống nhất các biện pháp tuyên truyền về biển, đảo tới các tầng lóp quần chúng nhân dân. Bản tin này kết luận bằng cách nhắc lại một câu nói của tiền nhân: “Ta phải giữ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy một phân núi, một tấc sông của tổ tiên.”

Ngày 17/03/2009, Chương trình Nghiên Cứu Biển Đông cùng với Học Viện Ngoại Giao đã tổ chức tại Hà Nội, một cuộc hội thảo với đề tài: “Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Biển Đông: lịch sử, địa chính trị, và luật pháp quốc tế”. Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Phó Giám Đốc Thư Viện Hán Nôm viết về cuộc hội thảo này như sau: “Hội thảo đã diễn ra trong một ngày (Kết thúc lúc 5giờ 30 chiều) với một tinh thần khẩn trương. Các trao đổi bên lề và các thảo luận tại hội trường thực sự sôi nổi, chất lượng và khoa học. Đây là cuộc hội ngộ của những tấm lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm dấn thân vào mọi nỗ lực giữ bằng được biển Đông”.

Các tin tức nêu trên làm một số người nức lòng. Có người không ngần ngại cho rằng Hà Nội đã bật đèn xanh cho một phong trào dân tộc thượng tôn, toàn dân cứu nước. Tại hải ngoại có vài cá nhân/tổ chức công khai, hoặc kín đáo kêu gọi mọi người Việt Nam hãy kết hợp với CSVN để quyết liệt chống Tàu. Vài người còn nêu bật phương châm: “Cứu nước trước. Chống Cộng sau”

Câu hỏi cần đặt ra là: Liệu chừng lần này CSVN có thực sự muốn cùng với toàn dân cứu nước hay không? Câu trả lời nằm trong các bản tin sau đây:

1. Tin về việc CSVN bảo vệ “lưỡi bò Trung Quốc” trên biển Đông.

a. Tuy chưa bao giờ chính thức công bố, nhưng bằng nhiều hình thức truyền thông khác nhau, Trung Quốc đã cho toàn thế giới biết Trung Quốc khẳng định trọn bộ biển Đông là biển của Trung Quốc. Lãnh hải của Trung Quốc trên biển Đông do Trung Quốc đơn phương vẽ ra chiếm 75% biển Đông và có hình dạng giống cái lưỡi bò. Trên lưỡi bò kia có Hoàng Sa, Trường Sa và vô số các đảo khác. Ngày 10/03/2009 Philippines ban hành đạo luật Cộng Hòa 9522 xác định chủ quyền đối với hơn 7100 đảo, bao gồm một phần của Trường Sa. Trọng tâm của đạo luật 9522 là quyết tâm xé bỏ lưỡi bò Trung Quốc chứ không là một phần Trường Sa. Vì vậy, sự việc CSVN cùng Trung Quốc phản đối đạo luật 9522 của Philippines cần được hiểu là CSVN đã tích cực bảo vệ lưỡi bò giùm cho Trung Quốc.

b. Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển ra đời ngày 10/12/1982. Ngày 25/07/1994, CSVN phê chuẩn công ước biển 1982. Công ước này qui định: các quốc gia ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng bên ngoài 200 hải lý. Vẫn theo luật biển 1982: Muốn thềm lục địa được quốc tế bảo vệ, Việt Nam phải nộp hồ sơ thông báo cho Ủy-Ban-Ranh-Giới-Thềm-Lục-Địa của Liên Hiệp Quốc để cơ quan này ghi nhận thế nào là địa hình và diện tích của thềm lục địa Việt Nam. Hạn chót để Việt Nam đệ nạp hồ sơ kia là ngày 13/05/2009. Sở dĩ mãi cho tới bây giờ, CSVN vẫn chưa tiến hành thủ tục xác nhân thềm lục địa như vừa kể là vì thềm lục địa Việt Nam đương nhiên phủ nhận lưỡi bò của Trung Quốc. Nói rõ ra: CSVN không xác nhận lãnh hải Việt Nam chỉ vì muốn bảo vệ sự nguyên vẹn lưỡi bò Trung Quốc.

2. Tin về việc CSVN “giải phóng” Trung Quốc ra khỏi cơn túng thiếu bauxite-nhôm:

Mặc dầu cả nước ngăn cản, cả thế giới ngăn cản, CSVN vẫn một lòng trung thành với Trung Quốc đến độ mở cửa đón công nhân Trung Quốc lũ lượt vào Tây Nguyên khai thác bauxite. Công việc khai thác này để lộ ba nghịch lý lớn:

a. Trên lãnh thổ Trung Quốc, bauxite đã tàn phá môi sinh quá nặng nề. Đó là lý do khiến Trung Quốc quyết dịnh đóng cửa 100 mỏ bauxite ở Hà Nam trước khi kéo công nhân và máy móc qua Việt Nam khai thác bauxite.

b. Công ty ngoại quốc vào Việt Nam kinh doanh, phải thuê mướn công nhân Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc vào Việt Nam kinh doanh lại ngang nhiên mang theo nhiều ngàn công nhân Tàu cho mỗi đơn vị kinh doanh.

c. Ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN mạnh mẽ cam kết: “An ninh Việt Nam vẫn được bảo đảm” trước sự kiện Trung Quốc kéo vào Tây Nguyên. Kinh nghiệm sống với CS đã dạy người Việt Nam rằng CS bao giờ cũng làm ngược lại những gì họ cam kết.

Ba nghịch lý kể trên cho thấy CSVN quyết tâm lấy đất đai của Tổ Tiên Việt Nam làm bãi rác cho người Tàu nhằm cứu Trung Quốc thoát khỏi nạn khan hiếm chất nhôm tinh luyện từ bauxite.

3. Tin về việc CSVN ra tay cứu nguy nạn thất nghiệp đang bành trướng ở Trung Quốc:

Theo tin Báo Tuổi Trẻ: Ngày 27/03/2009 Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam có tổ chức một cuộc hội thảo chung quanh chủ đề Hoạt Động Xây Dựng Tại Việt Nam. Nhân cuộc hội thảo này, ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam đã thông báo cho toàn thể tham dự viên biết các sự kiện sau đây:

a. Doanh nghiệp Trung Quốc được hỗ trợ của nhà nước Việt Nam như giảm thuế, nên giá bỏ thầu thường thấp hơn các công ty nước ngoài khác. Vì vậy, nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất đều về tay nhà thầu Trung Quốc.

b. Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân vào Việt Nam với đầy dủ trang thiết bị. Trong khi những trang thiết bị Việt Nam có thể sản xuất để bán cho Trung Quốc. Mặt khác, mỗi công trình Trung Quốc mang vào Việt Nam tối thiểu hai ngàn công nhân.

c. Trang thiết bị Tàu và công nhân Tàu đổ vào Việt Nam như kể trên đang làm “triệt tiêu nội lực” (chữ dùng trong cuộc hội thảo) kinh tế Việt Nam.

d. Năm 2007 Trung Quốc đẩy vào Phi Châu 750 ngàn công nhân hoạt động trong các lãnh vực: xây dựng, nông nghiệp, khoáng sản. Tháng 02 năm 2009 Bộ Trưởng Thương Mãi Trung Quốc nói với đài BBC rằng: Thất nghiệp là “thách thức lớn nhất” mà Trung Quốc đang đối diện.

Trong khi đó trong một báo cáo của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội CSVN cho biết chỉ ba tháng đầu năm 2009 Việt Nam đã có tới 700.000 người thất nghiệp.

Sự việc CSVN tạo điều kiện để nhà thầu Tàu, công nhân Tàu với vô số nhóm 2000 người (chưa kể vợ con) tự do tung hoành trên toàn lãnh thổ Viêt cho thấy CSVN quyết tâm cứu nguy nạn thất nghiệp tại Trung Quốc. Do mải mê cứu nguy Tàu, CSVN lờ đi thảm cảnh kinh tế Việt Nam tiêu tan nội lực, dân Việt Nam đói, thợ Việt Nam thất nghiệp.

Tóm lại, bài viết này có mục tiêu nêu bật hai thái độ ứng xử của CSVN:

Thứ nhất là ứng xử đối với đồng bào Việt Nam: CSVN ban phát cho đồng bào Việt Nam hai quyền tự do không có trong nhân quyền. Đó là tự do đói và tự do thất nghiệp. Nhằm che đậy phần nào cung cách ứng xử tệ hại kia, CSVN ra lệnh cho Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng với binh chủng hải quân kéo cao ngọn cờ dân tộc nay đã tả tơi. Bên dưới ngọn cờ tả tơi là tấm biểu ngữ với hàng chữ: “Quyết tâm bảo vệ từng thước núi tấc sông của tổ tiên bằng nước bọt”.

Thứ hai là ứng xử với Trung Quốc: CSVN nỗ lực tỏ lòng trung thành với Trung Quốc bằng kịch bản ba cứu: Một là cứu “Lưỡi bò” Trung Quốc không bị xé rách. Hai là cứu Trung Quốc thoát cơn khan hiếm bauxite-nhôm. Ba là cứu Trung Quốc giảm thiểu đại họa thất nghiệp.

Mang hai kiểu ứng xử kể trên đặt cạnh nhau, không ai là không nhận biết: Quả thực, chế độ Hà Nội đã và đang cực kỳ mẫn cán trong công việc cứu nước. Tuy nhiên, xin được nhấn mạnh rằng nước ở đây là nước Tàu chứ không là nước Việt Nam. CSVN chỉ biết cứu nước Tàu. Nước Việt Nam là nơi CSVN ngày càng tăng cao cường độ bóc lột và hành hạ đồng bào khốn khổ của chính họ. Mặt khác trong kịch bản ba cứu có kịch bản cứu thất nghiệp Trung Quốc là đáng chú ý nhất. Lá cờ bauxite chỉ cho phép Trung Quốc “đóng quân” ở những nơi nào có quặng bauxite. Ngọn cờ “Nhà thầu Trung Quốc trúng thầu xây dựng” mở đường cho Trung Quốc tung hoành trên khắp lãnh thổ Việt Nam.Với ngọn cờ xây dựng, Trung Quốc chia “quân” ra làm nhiều đơn vị khác nhau. Mỗi đơn vị tối thiểu 2000 người, chưa kể vợ con, tùy tiện “tiếp thu” những phần lãnh thổ trọng yếu của Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia là một đòn chí tử làm tiêu tán nội lực của dân tộc Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia chẳng khác nào một bọc ung thư đang nhảy cóc trên cơ thể Mẹ Việt Nam. Chừng nào những bọc ung thư quái ác vừa kể nhảy đúng vào tim, vào gan hay vào óc của Mẹ Việt Nam, Chừng đó MẸ SẼ QUA ĐỜI. Đó là tội ác, quỷ phải khóc, thần phải sầu của chế độ Hà Nội.

Đỗ Thái Nhiên