Đỗ Thái Nhiên
Đạn mã tử là đạn giả. Khi bị kích hỏa, đạn mã tử gây tiếng nổ như đạn thật nhưng “người bị bắn” không hề bị thương. Lý do: đạn mã tử chỉ có thuốc súng chứ không có đầu đạn.
Trong quân đội, người ta trang bị cho tân binh đạn mã tử để “tiếng nổ mã tử” giúp chàng lính mới cảm thấy hồi hộp và ly-kỳ-như-thật trong trường hợp thực tập đánh trận giả. Như vậy, đạn mã tử là một sản phẩm quân sự. Nó chỉ đắc dụng đối với giờ học tập chiến thuật của chương trình huấn luyện quân sự. Thế nhưng thời gian gần đây, chế độ Hà Nội đã mang đạn mã tử đi vào thế giới của kịch nghệ chính trị. Bên ni là quân Hà Nội. Bên nớ là quân Bắc Kinh. Đôi bên giao tranh kịch liệt. Tiếng đạn mã tử nghe đinh tai nhức óc. Một số người Việt thiếu kinh nghiệm trận mạc. Họ không phân biệt được sự khác nhau giữa đạn mã tử và đạn thật. Vài người,do sự hối thúc của lòng yêu nước, toan tính trở về Việt Nam để gia nhập đội quân "mã tử" của Hà Nội. Câu chuyện “Đạn Mã Tử Và Sân Khấu Chính Trị” được trình bày như sau:
Ông Đặng Công Ngữ hiên là giám đốc sở Nội Vụ Đà Nẵng. Ngày thứ bảy 25/04/2009, chế độ Hà Nội đã bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch huyện đảo Hoàng sa. Nhân dịp này, ông Đặng Công Ngữ tuyên bố trước báo chí: “Đây là mãnh đất thiêng liêng của tổ quốc, là máu thịt của tôi. Chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh để bảo vệ toàn ven chủ quyền lãnh thổ biển đảo.” Khi được báo chí hỏi về những công tác dự tính trong tương lai, ông Đặng Công Ngữ trả lời: “Chúng tôi đã có sẳn những kề hoạch, nhưng làm đến đâu sẽ nói đến đấy vậy.”
Trước đó, ngày 24/04/2009, tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Duy Nhất, phó giám đốc sở Nội vụ Đà Nẳng đã giới thiệu viện bảo tàng Hoàng sa với báo chí. Viện bảo tàng này có mục đích sưu tìm tài liệu và đang có “Hơn 500 hiện vật, thư tịch hiện có ở bảo tàng Hoàng sa, những câu chuyện từ các nhân chứng, sách báo, kỷ yếu…về Hoàng Sa sẽ giúp chúng tôi giới thiệu với du khách.” (Lời Nguyễn Công Ngữ, trích báo Lao Động của CSVN 24/04/09).
Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa làm việc theo kiểu “Làm tới đâu nói tới đấy”. Nói đúng hơn, CSVN không có chương trình làm việc dành cho Hoàng Sa Ông chủ tich này chỉ hứa bâng quơ rằng sẽ “Đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biển đảo”, thay vì mạnh mẽ cam kết “Quyết tâm đánh Tàu, lấy lại Hoàng Trường Sa đã bị Trung Quốc cưởng chiếm.” Bên cạnh cái gọi là “Nhà cầm quyền” Hoàng Sa là viện bảo tàng Hoang Sa. Bảo tàng này lập ra chỉ để giới thiệu Hoang Sa với du khách. Thế nhưng nếu du khách yêu cầu hướng dẫn họ di thăm Hoàng Sa thì Hà Nội bó tay. Nhìn chung, chức chủ tịch huyện đảo Hoang Sa và viên bảo tàng Hoàng Sa hiển nhiên chỉ là hai viên đạn mã tử. Có tiếng nổ nhưng phe địch không hề bị tổn thất.
Hai viên đạn mã tử vừa kể làm dư luận liên tưởng đến vụ án báo xuân Du Lịch. Được biết, nhân dịp Tết Nguyên Đán 2009, báo Xuân Du Lịch thuộc bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch đã đến tay người đọc. Thay vì tập trung vào nội dung vui Xuân như mọi báo xuân quốc doanh khác, Xuân Du Lịch đã bất ngờ nêu cao ý chí chống Trung Quốc xâm lươc. Nổi bật là bài viết “Tản Mạn Cho Đảo Xa”. Tính chất độc đáo của bài viết này nằm ở chỗ Trung Bảo (Tác giả của bài viết) đã diễn tả lòng yêu nước bằng thái độ trang trọng của Trung Bảo khi nhặt được tờ truyền đơn chống Tàu do một đồng bào Việt Nam nào đó bỏ lại trên lề đường đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc tại Saigon. Trung Bảo viết:
“Một năm sau, tờ giấy khổ A4 với dòng chữ vi tính: “Hoàng Sa-Trường Sa thân yêu là của Việt Nam” cùng vài chữ viết tay nguệch ngoạc: “09/12 ngày lịch sử” giờ đây đã ngã màu. Tờ giấy nầy của một bạn trẻ nào đó, tôi nhặt được trên lề đường Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện với lãnh sự quán Trung Quốc trong những ngày đẹp trời cuối năm 2007. Tôi đem nó về dán lên tường nhà mình như một kỷ niệm đẹp. Cái ngày 09/12/2007 có lẽ chẳng bao giờ tôi quên được. Quên sao được cái không khí bừng bừng khí thế. Quên sao được khi tình cờ tôi được dứng lẩn vào cùng những người tạo nên những ngày lịch sử.”
Thế nhưng những đồng bào yêu nước mà Trung Bảo tôn kính lại bị đảng CSVN gọi là “kẻ xấu”. Xấu chỉ vì không chấp nhận cùng với CSVN. Chứng kiến tình huống nghịch lý đến điên đảo kia, Trung Bảo bực dọc lý luận:
“Nếu có “kẻ xấu” nào đó “kích động” người ta đi biểu tình vì yêu nước, ta nên tôn trọng những kẻ xấu này. Ngược lại khi “người tốt” tìm cách ngăn cản sự biểu lộ đầy phẩn uất một cách chính đáng của người dân vì chứng kiến đất mẹ bị xâm phạm thì hẳn những kẻ vẫn mạo xưng là “người tốt” nầy cần phải được xem lại”.
Do các sự kiện trinh bày ở trên, ngày 14/04/2009, ông Lê Doãn Hợp, bộ trưởng bộ Thông Tin – Truyền Thông của CSVN đã ký lệnh tạm đóng cửa báo Du Lịch ba tháng. Trước vụ Xuân Du Lịch CSVN đã không nương tay trong việc đánh đập, bắt bớ giam cầm những người Việt chống bành trướng Bắc Kinh. Điển hình là các vị: nhà giáo Vũ Hùng, Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Blogger Điếu Cày… Bài viết này nhắc lại vụ báo Xuân Du lịch như môt nhấn mạnh rằng: Chỉ 10 ngày sau khi trừng phạt Xuân Du Lịch về “Tội chống Tàu xâm lược”, CSVN lại quay ra trình diễn vỡ tuồng chống Tàu theo kiểu: Bổ nhiệm chức vụ chủ tịch Hoàng Sa và bảo tàng viện Hoàng Sa. Tại sao CSVN lai phải giả vờ chống Tàu? Sau đây là bốn lý do:
Một là giả vờ chống Tàu vì không dám chống thật. Nói đúng hơn, CSVN đã dứt khoát chọn con đường thà mất nước còn hơn mất đảng.
Hai là giả vờ chống Tàu nhằm làm dịu đi lòng căm phẩn của nhân dân Việt Nam trước thái độ xâm lăng hống hách của người Tàu.
Ba là chống giả vờ chống Tàu với hy vọng dư luận quốc nội và quốc tế tưởng lầm rằng CSVN thực sự chống Tàu. Nhận định lầm lẩn kia là cơ hội giúp CSVN rửa mặt, rửa đi phần nào những vết nhơ đang hằn trên trán của những kẻ bán nước cầu vinh.
Bốn là giả vờ chống Tàu để độc chiếm sân khấu “Chống Tàu Cứu Nước”. Từ vị trí độc chiếm vừa kể, CSVN thực hiện hai gian mưu. Gian mưu thứ nhất: nhân danh nhà cầm quyền chống Tàu, CSVN sẽ tận tụy bảo vệ quân xâm lược Tàu bằng cách thẳng tay đàn áp những người Việt yêu nước với lý do những người này chống Tàu nhưng sai đường lối và chánh sách chống Tàu của đảng. Gian mưu thứ hai: thực hiện gian mưu thứ nhất tức là CSVN đã lập được công lớn đối với người Tàu. Từ đó, để thưởng công cho các quan thái thú thế kỷ 21, Trung Quốc sẽ bảo vệ vị trí thống trị của CSVN đối với xã hội Việt Nam ngày càng tích cực hơn.
Nhìn vào lịch sử của đảng CSVN, người khảo sát lịch sử nhận ra rằng do nhu cầu làm tay sai cho ngoại bang đây là lần thứ hai đảng CSVN ra tay giết hại đồng bào Việt Nam. Lần thứ nhất: năm 1945, CSVN thành lập Mặt Trận Việt Minh, kêu gọi toàn dân hợp lực chống thực dân Pháp. Nhưng sau đó chẳng bao lâu CSVN lại tiêu diệt người Việt yêu nước để có độc quyền đẩy Việt Nam đi vào con đường quốc gia vệ tinh của Nga và của Tàu. Lần thứ hai: năm 2009 CSVN đã lộ nguyên hình họ là chế độ độc tài phi chánh thống đang cai trị Việt Nam với tư cách là những quan thái thú của Tàu. Giới thái thú này ngày càng hiểm ác trong nổ lực thủ tiêu tất cả người Việt Nam nào dám chống lại ý đồ bành trướng của Bắc Kinh.
Dư luận thường cho rằng CSVN ngày nay quả thực một đảng xã hội đen. CS xem hoạt động chính trị chỉ là phương tiện để CS cưởng đoạt tài sản của toàn xã hội. Thực ra suy nghĩ như vừa kể là có phần khoan hồng đối với CSVN. Băng đảng độc ác hàng đầu là Mafia. Ngay cả Mafia, họ chỉ kiếm tiền trong các lãnh vực buôn lậu ma túy, rượu mạnh, cờ bạc, nhà đất … Những gì Mafia làm, CSVN đều đã làm. Riêng trong trong môi trường buôn dân, bán nước, Mafia chưa đáng là học trò của CSVN. Chưa có chế độ nào trên thế giới, ngoại trừ chế độ Hà Nội, người ta một mặt mở cửa biên giới mời gọi quân xâm lăng tràn ngập lãnh thổ. Mặt khác vừa giả vờ dùng đạn mã tử chống xâm lăng, vừa thẳng tay sát hại những người yêu nước.
Đỗ Thái Nhiên
Tuesday, May 19, 2009
ĐẠN MÃ TỬ - Đỗ Thái Nhiên
CỨU NƯỚC - Đỗ Thái Nhiên
Đỗ Thái Nhiên
Ngày 09/03/2009, báo Lao Động của CSVN loan tin: Ngày 04/03/09, tại Hà Nội Ban Thường Trực Ủy Ban Trung Ương MTTQVN và quân chủng Hải Quân đã thống nhất các biện pháp tuyên truyền về biển, đảo tới các tầng lóp quần chúng nhân dân. Bản tin này kết luận bằng cách nhắc lại một câu nói của tiền nhân: “Ta phải giữ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy một phân núi, một tấc sông của tổ tiên.”Ngày 17/03/2009, Chương trình Nghiên Cứu Biển Đông cùng với Học Viện Ngoại Giao đã tổ chức tại Hà Nội, một cuộc hội thảo với đề tài: “Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Biển Đông: lịch sử, địa chính trị, và luật pháp quốc tế”. Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Phó Giám Đốc Thư Viện Hán Nôm viết về cuộc hội thảo này như sau: “Hội thảo đã diễn ra trong một ngày (Kết thúc lúc 5giờ 30 chiều) với một tinh thần khẩn trương. Các trao đổi bên lề và các thảo luận tại hội trường thực sự sôi nổi, chất lượng và khoa học. Đây là cuộc hội ngộ của những tấm lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm dấn thân vào mọi nỗ lực giữ bằng được biển Đông”.
Các tin tức nêu trên làm một số người nức lòng. Có người không ngần ngại cho rằng Hà Nội đã bật đèn xanh cho một phong trào dân tộc thượng tôn, toàn dân cứu nước. Tại hải ngoại có vài cá nhân/tổ chức công khai, hoặc kín đáo kêu gọi mọi người Việt Nam hãy kết hợp với CSVN để quyết liệt chống Tàu. Vài người còn nêu bật phương châm: “Cứu nước trước. Chống Cộng sau”
Câu hỏi cần đặt ra là: Liệu chừng lần này CSVN có thực sự muốn cùng với toàn dân cứu nước hay không? Câu trả lời nằm trong các bản tin sau đây:
1. Tin về việc CSVN bảo vệ “lưỡi bò Trung Quốc” trên biển Đông.
a. Tuy chưa bao giờ chính thức công bố, nhưng bằng nhiều hình thức truyền thông khác nhau, Trung Quốc đã cho toàn thế giới biết Trung Quốc khẳng định trọn bộ biển Đông là biển của Trung Quốc. Lãnh hải của Trung Quốc trên biển Đông do Trung Quốc đơn phương vẽ ra chiếm 75% biển Đông và có hình dạng giống cái lưỡi bò. Trên lưỡi bò kia có Hoàng Sa, Trường Sa và vô số các đảo khác. Ngày 10/03/2009 Philippines ban hành đạo luật Cộng Hòa 9522 xác định chủ quyền đối với hơn 7100 đảo, bao gồm một phần của Trường Sa. Trọng tâm của đạo luật 9522 là quyết tâm xé bỏ lưỡi bò Trung Quốc chứ không là một phần Trường Sa. Vì vậy, sự việc CSVN cùng Trung Quốc phản đối đạo luật 9522 của Philippines cần được hiểu là CSVN đã tích cực bảo vệ lưỡi bò giùm cho Trung Quốc.
b. Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển ra đời ngày 10/12/1982. Ngày 25/07/1994, CSVN phê chuẩn công ước biển 1982. Công ước này qui định: các quốc gia ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng bên ngoài 200 hải lý. Vẫn theo luật biển 1982: Muốn thềm lục địa được quốc tế bảo vệ, Việt Nam phải nộp hồ sơ thông báo cho Ủy-Ban-Ranh-Giới-Thềm-Lục-Địa của Liên Hiệp Quốc để cơ quan này ghi nhận thế nào là địa hình và diện tích của thềm lục địa Việt Nam. Hạn chót để Việt Nam đệ nạp hồ sơ kia là ngày 13/05/2009. Sở dĩ mãi cho tới bây giờ, CSVN vẫn chưa tiến hành thủ tục xác nhân thềm lục địa như vừa kể là vì thềm lục địa Việt Nam đương nhiên phủ nhận lưỡi bò của Trung Quốc. Nói rõ ra: CSVN không xác nhận lãnh hải Việt Nam chỉ vì muốn bảo vệ sự nguyên vẹn lưỡi bò Trung Quốc.
2. Tin về việc CSVN “giải phóng” Trung Quốc ra khỏi cơn túng thiếu bauxite-nhôm:
Mặc dầu cả nước ngăn cản, cả thế giới ngăn cản, CSVN vẫn một lòng trung thành với Trung Quốc đến độ mở cửa đón công nhân Trung Quốc lũ lượt vào Tây Nguyên khai thác bauxite. Công việc khai thác này để lộ ba nghịch lý lớn:
a. Trên lãnh thổ Trung Quốc, bauxite đã tàn phá môi sinh quá nặng nề. Đó là lý do khiến Trung Quốc quyết dịnh đóng cửa 100 mỏ bauxite ở Hà Nam trước khi kéo công nhân và máy móc qua Việt Nam khai thác bauxite.
b. Công ty ngoại quốc vào Việt Nam kinh doanh, phải thuê mướn công nhân Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc vào Việt Nam kinh doanh lại ngang nhiên mang theo nhiều ngàn công nhân Tàu cho mỗi đơn vị kinh doanh.
c. Ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN mạnh mẽ cam kết: “An ninh Việt Nam vẫn được bảo đảm” trước sự kiện Trung Quốc kéo vào Tây Nguyên. Kinh nghiệm sống với CS đã dạy người Việt Nam rằng CS bao giờ cũng làm ngược lại những gì họ cam kết.
Ba nghịch lý kể trên cho thấy CSVN quyết tâm lấy đất đai của Tổ Tiên Việt Nam làm bãi rác cho người Tàu nhằm cứu Trung Quốc thoát khỏi nạn khan hiếm chất nhôm tinh luyện từ bauxite.
3. Tin về việc CSVN ra tay cứu nguy nạn thất nghiệp đang bành trướng ở Trung Quốc:
Theo tin Báo Tuổi Trẻ: Ngày 27/03/2009 Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam có tổ chức một cuộc hội thảo chung quanh chủ đề Hoạt Động Xây Dựng Tại Việt Nam. Nhân cuộc hội thảo này, ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam đã thông báo cho toàn thể tham dự viên biết các sự kiện sau đây:
a. Doanh nghiệp Trung Quốc được hỗ trợ của nhà nước Việt Nam như giảm thuế, nên giá bỏ thầu thường thấp hơn các công ty nước ngoài khác. Vì vậy, nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất đều về tay nhà thầu Trung Quốc.
b. Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân vào Việt Nam với đầy dủ trang thiết bị. Trong khi những trang thiết bị Việt Nam có thể sản xuất để bán cho Trung Quốc. Mặt khác, mỗi công trình Trung Quốc mang vào Việt Nam tối thiểu hai ngàn công nhân.
c. Trang thiết bị Tàu và công nhân Tàu đổ vào Việt Nam như kể trên đang làm “triệt tiêu nội lực” (chữ dùng trong cuộc hội thảo) kinh tế Việt Nam.
d. Năm 2007 Trung Quốc đẩy vào Phi Châu 750 ngàn công nhân hoạt động trong các lãnh vực: xây dựng, nông nghiệp, khoáng sản. Tháng 02 năm 2009 Bộ Trưởng Thương Mãi Trung Quốc nói với đài BBC rằng: Thất nghiệp là “thách thức lớn nhất” mà Trung Quốc đang đối diện.
Trong khi đó trong một báo cáo của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội CSVN cho biết chỉ ba tháng đầu năm 2009 Việt Nam đã có tới 700.000 người thất nghiệp.
Sự việc CSVN tạo điều kiện để nhà thầu Tàu, công nhân Tàu với vô số nhóm 2000 người (chưa kể vợ con) tự do tung hoành trên toàn lãnh thổ Viêt cho thấy CSVN quyết tâm cứu nguy nạn thất nghiệp tại Trung Quốc. Do mải mê cứu nguy Tàu, CSVN lờ đi thảm cảnh kinh tế Việt Nam tiêu tan nội lực, dân Việt Nam đói, thợ Việt Nam thất nghiệp.
Tóm lại, bài viết này có mục tiêu nêu bật hai thái độ ứng xử của CSVN:
Thứ nhất là ứng xử đối với đồng bào Việt Nam: CSVN ban phát cho đồng bào Việt Nam hai quyền tự do không có trong nhân quyền. Đó là tự do đói và tự do thất nghiệp. Nhằm che đậy phần nào cung cách ứng xử tệ hại kia, CSVN ra lệnh cho Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cùng với binh chủng hải quân kéo cao ngọn cờ dân tộc nay đã tả tơi. Bên dưới ngọn cờ tả tơi là tấm biểu ngữ với hàng chữ: “Quyết tâm bảo vệ từng thước núi tấc sông của tổ tiên bằng nước bọt”.
Thứ hai là ứng xử với Trung Quốc: CSVN nỗ lực tỏ lòng trung thành với Trung Quốc bằng kịch bản ba cứu: Một là cứu “Lưỡi bò” Trung Quốc không bị xé rách. Hai là cứu Trung Quốc thoát cơn khan hiếm bauxite-nhôm. Ba là cứu Trung Quốc giảm thiểu đại họa thất nghiệp.
Mang hai kiểu ứng xử kể trên đặt cạnh nhau, không ai là không nhận biết: Quả thực, chế độ Hà Nội đã và đang cực kỳ mẫn cán trong công việc cứu nước. Tuy nhiên, xin được nhấn mạnh rằng nước ở đây là nước Tàu chứ không là nước Việt Nam. CSVN chỉ biết cứu nước Tàu. Nước Việt Nam là nơi CSVN ngày càng tăng cao cường độ bóc lột và hành hạ đồng bào khốn khổ của chính họ. Mặt khác trong kịch bản ba cứu có kịch bản cứu thất nghiệp Trung Quốc là đáng chú ý nhất. Lá cờ bauxite chỉ cho phép Trung Quốc “đóng quân” ở những nơi nào có quặng bauxite. Ngọn cờ “Nhà thầu Trung Quốc trúng thầu xây dựng” mở đường cho Trung Quốc tung hoành trên khắp lãnh thổ Việt Nam.Với ngọn cờ xây dựng, Trung Quốc chia “quân” ra làm nhiều đơn vị khác nhau. Mỗi đơn vị tối thiểu 2000 người, chưa kể vợ con, tùy tiện “tiếp thu” những phần lãnh thổ trọng yếu của Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia là một đòn chí tử làm tiêu tán nội lực của dân tộc Việt Nam. Mỗi tiếp thu kia chẳng khác nào một bọc ung thư đang nhảy cóc trên cơ thể Mẹ Việt Nam. Chừng nào những bọc ung thư quái ác vừa kể nhảy đúng vào tim, vào gan hay vào óc của Mẹ Việt Nam, Chừng đó MẸ SẼ QUA ĐỜI. Đó là tội ác, quỷ phải khóc, thần phải sầu của chế độ Hà Nội.
Đỗ Thái Nhiên
gương thành công của Quốc Gia Nghĩa Tử Nguyễn Thị Bích Yến - Đỗ Văn Phúc
- Để cho sự hy sinh của Cha Anh mình có đưọc ý nghĩa
Giới thiệu gương thành công của Quốc Gia Nghĩa Tử Nguyễn Thị Bích Yến
Kỷ niệm 55 năm ngày mãn khoá, khoá 10 Trần Bình Trọng, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (01/06/1954 – 01/06/2009)
Đỗ Văn Phúc
Đại Uý Nguyễn Khắc Thi, sinh trưởng tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, nơi có bà mẹ có con trai bị giặc cắt đầu đêm trước, để tở mờ sáng hôm sau đã “không nói một câu, đem khăn gói đi lấy đầu”. Trước ngày nhập ngũ, Nguyễn Khắc Thi phục vụ trong nghành công an của chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Anh bị Việt Minh phục kích giết hụt nhiều lần. Lần nghiêm trọng nhất là anh bị chúng dùng mã tấu chặt phía sau ót tưởng đã mất mạng, để lại một vết sẹo sâu và dài. Sau khi hồi phục, anh liền tình nguyện vào khoá 10 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (tiền thân của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam). Ra trường vào ngày 1 tháng 6 năm 1954, với một vạch kim tuyến vàng trên vai áo, Thiếu Úy Thi được thuyên chuyển phục vụ nhiều đơn vị trước khi về làm Đại đội trưởng Đại đội Trọng pháo 44 đóng tại Dục Mỹ khoảng năm 1960 (có lẽ là tiền thân của Tiểu đoàn Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh, vì lúc đó, Đại Tá Hoàng Xuân Lãm đang là Tư Lịnh Sư Đoàn 23 BB tại Ban Mê Thuột).
Đường binh nghiệp của anh Thi không được suôn sẻ lắm, nên cho đến gần cuối năm 1964, anh vẫn còn mang cấp Trung Úy, dù đã chuyển qua binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt ưu tú, đầy hào hùng. Anh làm Trưởng một trại LLĐB cấp A tại vùng biên giới thuộc Quân Khu 4.
Trong một trận đánh và bị địch phục kích, Trung Úy Thi bị đạn vào đùi trên, nơi có các động mạch lớn và khó thể cầm máu. Trong khi chờ đợi tải thương, do máu ra nhiều, Trung Úy Nguyễn Khắc Thi đã trút hơi thở cuối cùng, hy sinh đền nợ nước.
Anh để lại một vợ trẻ, và một bầy con bảy cháu mà cháu lớn tuổi chỉ mười ba; cháu út vừa sinh chưa thấy mặt cha.
Người goá phụ, Đỗ Thị Bích Nhạn, tuổi chưa đến 30, bao năm vò võ thay chồng chăm sóc đàn con. Vì anh đi chiến trận nay đây mai đó, chị phải thuê căn nhà xập xệ trong một hẻm nhỏ lầy lội trên đường Trương Minh Giảng, Sài Gòn để ở. Lương nhà binh không đủ cho bản thân, nói chi đến gia đình đông đúc. Vì thế, chị phải xuôi ngược, mở quán, làm thêm thức ăn bỏ mối để lo cho các con.
Sau khi anh hy sinh, gia đình hoàn toàn lâm vào cảnh cùng khốn. Nhưng chị quyết không để sự hy sinh của anh thành uổng phí. Chị đã tiếp tục làm ăn khổ cực, quyết cho các con tiếp tục ăn học. Được Quân Đội cung cấp một chiếc C-47 đưa thi hài anh về quê quán tại làng Lễ Môn, quận Gio Linh chôn cất chu đáo xong, chị lăn xả ngay vào cuộc sống mới. Vừa lo sinh kế, vừa để khuây khoả nỗi mất mát lớn lao.
Năm 1965, chị được Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt giúp đỡ cho thầu Câu Lạc Bộ tại Trung Tâm Huấn Luyện Động Ba Thìn (dưới quyền Thiếu Tá Phạm Duy Tất, sau này là Đại tá Chỉ Huy Trưởng C2, rồi BĐQ vùng 2). Gia đình được cấp một căn trong Cư Xá Lê Văn Duyệt gần Bộ Tư Lệnh LLĐB tại Nha Trang. Căn bên cạnh dành cho các chị Nữ Trợ Tá Xã Hội LLĐB. Vì thế, các cháu phần nào cũng được sự săn sóc của các chị Trung Uý Nguyễn Hồng Đào, các Trung Sĩ Phan Thị Liên, Nguyễn Thị Nương, chị Thạch … Chị làm đủ nghề, ngay cả việc nhận giặt áo quần cho binh sĩ Hoa Kỳ thuộc Liên Đoàn 5 LLĐB.
Cháu đầu lòng, Nguyễn Thị Bích Yến, từ đây thay mẹ chăm sóc đàn em nheo nhóc. Có nhiều ngày, bảy chị em chỉ lót lòng chén cơm nguội chan nước mắm để đi học. Nhưng sớm ý thức hoàn cảnh của mình, nên các cháu đều chăm lo học hành.
Ba chị em đầu được nhận vào trường Trung Học Quốc Gia Nghĩa Tử tại Sài Gòn. Dù trong thời kỳ chiến tranh tàn khốc, khó khăn về kinh viện, sự săn sóc của chính phủ và Quân đội VNCH có thể nói là rất chu đáo để đến đáp lại sự hy sinh cao quý của người quân nhân.
Năm 1972, người goá phụ đảm đang đã cố gắng làm thêm việc kiếm thêm tiền, hy sinh hạnh phúc của mình để lo cho Bích Yến đi du học tại Hoa Kỳ.
Bích Yến tốt nghiệp truờng Đại Học Texas tại Austin, là một trong 10 trường đại học công lập nổi tiếng nhất tại Mỹ. Cô nhận văn bằng Kỹ sư Hoá Học năm 1977 và khởi nghiệp là công chức của City of Austin. Sau đó, cô được hãng Motorola thu dụng và làm việc tại đây cho đến ngày nay.
Ngay từ năm 1980, Bích Yến đã được công nhận về những phát minh trong kỹ thuật bán dẫn CMOS (complementary metal oxide semiconductor) cho các sản phẩm IC (integrated circuit) tiên tiến. Cô có nhiều công lớn trong việc chuyển các phát minh ra ứng dụng trong sản xuất, mà đã tạo cho Motorola một thế đứng rất cao trong việc cạnh tranh về kỹ thuật với các hãng lớn khác. Từ những năm cuối thế kỷ 20, Bích Yến đã là một trong những chuyên gia thượng thặng của hãng. Cô lãnh đạo một nhóm chuyên gia của bốn phòng nghiên cứu thí nghệm để phát triển các thành phẫm mới trong lãnh vực áp dụng kỹ thuật cấp nano (tức 1 phần ngàn của micro). Tổng cộng, Bích yến có trên 100 bằng sáng chế, va nhiều bằng sáng chế đang được cứu xét. Bích yến cũng được mời di thuyết trình về kỹ thuật bán dẫn CMOS hiện tại và trong tương lai tại các trường dạ-học và các hội nghị tại nhiều quốc gia.
Với những thành tựu đó, Bích Yến được các vinh danh và phần thưởng như sau:
Qua năm 2004, cô được chọn để trao giải Woman of Color Technology Award.
Nhưng trên tất cả những thành tựu trong nghề nghiệp, Nguyễn Bích Yến đã thành công trong việc lo cho me, các em gái và em trai vừa vượt biển, vừa theo chương trình đoàn tụ để cùng nhau đến bến bờ tự do cũng như tạo mọi điều kiện vật chất, khích lệ tinh thần cho các em tiếp tục học hành thành đạt.
Đối với Cộng Đồng, Bích Yến cùng chồng là Kỹ sư Trần Ziệp có nhiều đóng góp cho các chương trình trợ giúp những người Việt mới định cư. Cô rất sốt sắng tham gia vào nhiều công tác của các hội đoàn, nhất là các hội đoàn thiện nguyện của Phụ Nữ. Năm 1999, Ban Chấp Hành Cộng Đồng Austin đã ghi công của cô qua việc trao tặng bằng tuyên dương cá nhân xuất sắc. Vừa qua, Bích yến đã được Tạp Chí Phụ Nữ Cali phỏng vấn, giới thiệu.
Bích Yến là một tấm gương rất tốt cho các em thế hệ 1.5 và thế hệ 2; nhất là đối với các con em của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh. Vì chắc chắn, nơi suối vàng, vong linh các anh hùng tử sĩ cũng hãnh diện và an lòng rằng sự hy sinh của họ cũng có nhiều ý nghĩa.
Nhân ngày Father Day năm nay, chúng tôi xin giới thiệu gương thành công của Nguyễn Thị Bích Yến làm quà kính tặng các bậc làm cha, nói chung; và các chiến sĩ VNCH nói riêng và ước mong các em, các cháu thế hệ 1.5, thế hệ 2 sẽ nghĩ đến cha anh mình mà luôn thăng tiến, thành đạt để góp sức trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ sớm vãn hồi trên quê hương.
Và cũng xin dành kính tặng các cựu SVSQ Khoá 10 Trần Bình Trọng, nhân kỷ niệm 55 năm ngày quý anh mãn khoá (01/06/1954 – 01/06/2009) để tưởng nhớ đến một đồng môn của quý anh: cố Đại Úy Nguyễn Khắc Thi.
Đỗ Văn Phúc
Đỗ Văn Phúc
Đại Uý Nguyễn Khắc Thi, sinh trưởng tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, nơi có bà mẹ có con trai bị giặc cắt đầu đêm trước, để tở mờ sáng hôm sau đã “không nói một câu, đem khăn gói đi lấy đầu”. Trước ngày nhập ngũ, Nguyễn Khắc Thi phục vụ trong nghành công an của chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Anh bị Việt Minh phục kích giết hụt nhiều lần. Lần nghiêm trọng nhất là anh bị chúng dùng mã tấu chặt phía sau ót tưởng đã mất mạng, để lại một vết sẹo sâu và dài. Sau khi hồi phục, anh liền tình nguyện vào khoá 10 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (tiền thân của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam). Ra trường vào ngày 1 tháng 6 năm 1954, với một vạch kim tuyến vàng trên vai áo, Thiếu Úy Thi được thuyên chuyển phục vụ nhiều đơn vị trước khi về làm Đại đội trưởng Đại đội Trọng pháo 44 đóng tại Dục Mỹ khoảng năm 1960 (có lẽ là tiền thân của Tiểu đoàn Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh, vì lúc đó, Đại Tá Hoàng Xuân Lãm đang là Tư Lịnh Sư Đoàn 23 BB tại Ban Mê Thuột).Đường binh nghiệp của anh Thi không được suôn sẻ lắm, nên cho đến gần cuối năm 1964, anh vẫn còn mang cấp Trung Úy, dù đã chuyển qua binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt ưu tú, đầy hào hùng. Anh làm Trưởng một trại LLĐB cấp A tại vùng biên giới thuộc Quân Khu 4.
Trong một trận đánh và bị địch phục kích, Trung Úy Thi bị đạn vào đùi trên, nơi có các động mạch lớn và khó thể cầm máu. Trong khi chờ đợi tải thương, do máu ra nhiều, Trung Úy Nguyễn Khắc Thi đã trút hơi thở cuối cùng, hy sinh đền nợ nước.
Anh để lại một vợ trẻ, và một bầy con bảy cháu mà cháu lớn tuổi chỉ mười ba; cháu út vừa sinh chưa thấy mặt cha.
Người goá phụ, Đỗ Thị Bích Nhạn, tuổi chưa đến 30, bao năm vò võ thay chồng chăm sóc đàn con. Vì anh đi chiến trận nay đây mai đó, chị phải thuê căn nhà xập xệ trong một hẻm nhỏ lầy lội trên đường Trương Minh Giảng, Sài Gòn để ở. Lương nhà binh không đủ cho bản thân, nói chi đến gia đình đông đúc. Vì thế, chị phải xuôi ngược, mở quán, làm thêm thức ăn bỏ mối để lo cho các con.
Sau khi anh hy sinh, gia đình hoàn toàn lâm vào cảnh cùng khốn. Nhưng chị quyết không để sự hy sinh của anh thành uổng phí. Chị đã tiếp tục làm ăn khổ cực, quyết cho các con tiếp tục ăn học. Được Quân Đội cung cấp một chiếc C-47 đưa thi hài anh về quê quán tại làng Lễ Môn, quận Gio Linh chôn cất chu đáo xong, chị lăn xả ngay vào cuộc sống mới. Vừa lo sinh kế, vừa để khuây khoả nỗi mất mát lớn lao.
Năm 1965, chị được Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt giúp đỡ cho thầu Câu Lạc Bộ tại Trung Tâm Huấn Luyện Động Ba Thìn (dưới quyền Thiếu Tá Phạm Duy Tất, sau này là Đại tá Chỉ Huy Trưởng C2, rồi BĐQ vùng 2). Gia đình được cấp một căn trong Cư Xá Lê Văn Duyệt gần Bộ Tư Lệnh LLĐB tại Nha Trang. Căn bên cạnh dành cho các chị Nữ Trợ Tá Xã Hội LLĐB. Vì thế, các cháu phần nào cũng được sự săn sóc của các chị Trung Uý Nguyễn Hồng Đào, các Trung Sĩ Phan Thị Liên, Nguyễn Thị Nương, chị Thạch … Chị làm đủ nghề, ngay cả việc nhận giặt áo quần cho binh sĩ Hoa Kỳ thuộc Liên Đoàn 5 LLĐB.
Cháu đầu lòng, Nguyễn Thị Bích Yến, từ đây thay mẹ chăm sóc đàn em nheo nhóc. Có nhiều ngày, bảy chị em chỉ lót lòng chén cơm nguội chan nước mắm để đi học. Nhưng sớm ý thức hoàn cảnh của mình, nên các cháu đều chăm lo học hành.
Ba chị em đầu được nhận vào trường Trung Học Quốc Gia Nghĩa Tử tại Sài Gòn. Dù trong thời kỳ chiến tranh tàn khốc, khó khăn về kinh viện, sự săn sóc của chính phủ và Quân đội VNCH có thể nói là rất chu đáo để đến đáp lại sự hy sinh cao quý của người quân nhân.
Năm 1972, người goá phụ đảm đang đã cố gắng làm thêm việc kiếm thêm tiền, hy sinh hạnh phúc của mình để lo cho Bích Yến đi du học tại Hoa Kỳ.
Bích Yến tốt nghiệp truờng Đại Học Texas tại Austin, là một trong 10 trường đại học công lập nổi tiếng nhất tại Mỹ. Cô nhận văn bằng Kỹ sư Hoá Học năm 1977 và khởi nghiệp là công chức của City of Austin. Sau đó, cô được hãng Motorola thu dụng và làm việc tại đây cho đến ngày nay.
Ngay từ năm 1980, Bích Yến đã được công nhận về những phát minh trong kỹ thuật bán dẫn CMOS (complementary metal oxide semiconductor) cho các sản phẩm IC (integrated circuit) tiên tiến. Cô có nhiều công lớn trong việc chuyển các phát minh ra ứng dụng trong sản xuất, mà đã tạo cho Motorola một thế đứng rất cao trong việc cạnh tranh về kỹ thuật với các hãng lớn khác. Từ những năm cuối thế kỷ 20, Bích Yến đã là một trong những chuyên gia thượng thặng của hãng. Cô lãnh đạo một nhóm chuyên gia của bốn phòng nghiên cứu thí nghệm để phát triển các thành phẫm mới trong lãnh vực áp dụng kỹ thuật cấp nano (tức 1 phần ngàn của micro). Tổng cộng, Bích yến có trên 100 bằng sáng chế, va nhiều bằng sáng chế đang được cứu xét. Bích yến cũng được mời di thuyết trình về kỹ thuật bán dẫn CMOS hiện tại và trong tương lai tại các trường dạ-học và các hội nghị tại nhiều quốc gia.Với những thành tựu đó, Bích Yến được các vinh danh và phần thưởng như sau:
- • Được đề nghị là Nữ Kỹ sư xuất sắc trong hai năm 1987 và 1989 (Nominations for the Woman Engineer of the Year)
- • Là nữ chuyên gia đầu tiên của Motorola/Freescale nhận giải Sáng Chế Xuất Sắc (Distinguished Innovation award in 1991 and Master of Innovation in 1993)
- • Được bầu vào Hội Đồng Cố Vấn Khoa Học từ năm 1992. (Motorola Science Advisory Board Associate (SABA)
- • Recipient of the High Impact Technology Award in 1997
Qua năm 2004, cô được chọn để trao giải Woman of Color Technology Award.
Nhưng trên tất cả những thành tựu trong nghề nghiệp, Nguyễn Bích Yến đã thành công trong việc lo cho me, các em gái và em trai vừa vượt biển, vừa theo chương trình đoàn tụ để cùng nhau đến bến bờ tự do cũng như tạo mọi điều kiện vật chất, khích lệ tinh thần cho các em tiếp tục học hành thành đạt.
Đối với Cộng Đồng, Bích Yến cùng chồng là Kỹ sư Trần Ziệp có nhiều đóng góp cho các chương trình trợ giúp những người Việt mới định cư. Cô rất sốt sắng tham gia vào nhiều công tác của các hội đoàn, nhất là các hội đoàn thiện nguyện của Phụ Nữ. Năm 1999, Ban Chấp Hành Cộng Đồng Austin đã ghi công của cô qua việc trao tặng bằng tuyên dương cá nhân xuất sắc. Vừa qua, Bích yến đã được Tạp Chí Phụ Nữ Cali phỏng vấn, giới thiệu.
Bích Yến là một tấm gương rất tốt cho các em thế hệ 1.5 và thế hệ 2; nhất là đối với các con em của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh. Vì chắc chắn, nơi suối vàng, vong linh các anh hùng tử sĩ cũng hãnh diện và an lòng rằng sự hy sinh của họ cũng có nhiều ý nghĩa.
Nhân ngày Father Day năm nay, chúng tôi xin giới thiệu gương thành công của Nguyễn Thị Bích Yến làm quà kính tặng các bậc làm cha, nói chung; và các chiến sĩ VNCH nói riêng và ước mong các em, các cháu thế hệ 1.5, thế hệ 2 sẽ nghĩ đến cha anh mình mà luôn thăng tiến, thành đạt để góp sức trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ sớm vãn hồi trên quê hương.
Và cũng xin dành kính tặng các cựu SVSQ Khoá 10 Trần Bình Trọng, nhân kỷ niệm 55 năm ngày quý anh mãn khoá (01/06/1954 – 01/06/2009) để tưởng nhớ đến một đồng môn của quý anh: cố Đại Úy Nguyễn Khắc Thi.
Đỗ Văn Phúc
Từ Công An Nhân Dân Đến Điện Báo Tin Paris - Kim Dung
Kim Dung
Thiên hạ kháo với nhau rằng đòn thù của những người thù với ta không đau bằng những đòn thù của những người trước đây là bạn của ta … quả không sai một chút nào. Ít nhất là không sai trong trường hợp tờ điện báo Tin Paris của ông Hứa Vạng Thọ.
Nói theo một cách khác, điện báo Tin Paris đã chứng minh câu nói đó rất ư là hùng hồn qua bài viết “phong trào kháng chiến chống giặc Tàu tại gia” - nguyên văn - cố tình đả kích thầy Quảng Độ không thương tiếc. Đau thay, qua văn phong đến cách lý luận của bài đả kích này, nếu có thể gọi đó là văn phong và lý luận, chúng ta chỉ thấy được những làn hơi đứt khoảng, những ý tưởng vụn vặt, những tâm tư thù hận.
Bài viết không mạch lạc đã đành mà cũng không trôi chảy để tải được ý. Cố hiểu lắm cũng không thể hiểu tại sao tác giả lại đả kích Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và đả kích vì lý do gì.
Chỉ biết tác giả cố tình đả kích và đả kích rất thù hận, hỗn xược. Thế thôi!
Ước gì đọc giả hiểu rõ tại sao họ phang … ngang như vậy. Đồng ý hay không lại là chuyện khác, nhưng ít ra khi cho đăng một bài đả kích, nhất là đả kích hận thù như vậy, nhóm chủ trương nên giữ lấy lề, và kính trọng đọc giả, họ không thể làm rộng đường dư luận rất ư là trái mùa qua một bài viết hoàn toàn bất chấp cú pháp. Nói nào ngay văn phong của bài đả kích này thua xa bài báo được đăng trên trang Công An Việt Cộng, vô tình hay cố ý, cũng được tung ra trong cùng một thời gian để đả kích ngài Thích Quảng Độ. Như họ!
Điện báo Tin Paris và báo Công An Nhân Dân cùng một thời điểm mạ lỵ Đại Lão Thích Quảng Độ không tiếc lời.
Và nói nào ngay, bài báo của Công An Việt Cộng đã nêu lý do, họ phân định rõ ràng đâu là bạn, đâu là thù, lằn ranh Quốc và Cộng với họ bao giờ cũng đậm nét. Còn nhóm chủ trương Tin Paris thì ngược lại. Họ chỉ đả kích và đả kích, ngoài ra không có gì là rõ ràng, kể cả lằn ranh Quốc và Cộng. Tất cả chỉ mờ mờ nhân ảo.
Việt Cộng phân định chúng ta rất là rõ ràng, còn nhóm chủ trương Tin Paris đã phân biệt ai là bạn, ai là thù sau 34 năm làm người mất nước, mất quê hương?
Với lối chống Cộng của họ, xin hỏi, đã giúp gì trong công cuộc chung qua do sự phân biệt đục ngầu, qua lập trường cứ thay đổi với tốc độ chóng mặt hơn cả mức lên xuống của nền chứng khoán ở Mỹ.
Khi bênh, khi chống, hay gặp ai cũng chống, làm gì cũng đả kích là cách chống Cộng hữu hiệu nhất mà họ chọn hay sao?
Đại Lão Hòa Thượng Quảng Độ đã chống đối mãnh liệt, can đảm ngay trong lòng của địch, từ lúc nhóm chủ trương Tin Paris mới co giò bỏ chạy, đang cố an thân, hoàn hồn trong bối cảnh đầy dẫy thịt và rượu bên kia phương trời Tây. Ngài đòi hỏi Tự Do Dân Chủ - Tự Do Tôn Giáo cho một nước Việt Nam lạc hậu thụt lùi so với các nước Á Châu trong vùng.
Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ vì dân tộc, vì quê hương. Ngày nào Việt Nam còn quốc nạn và pháp nạn, ngày ấy ngài Quảng Độ còn tiếp tục đấu tranh, không thay đổi. Và chúng ta, những con dân nước Việt may mắn được tạm cư trên những bến bờ tự do, trong đó có nhóm chủ trương Tin Paris, sau khi hoàn hồn, có quyền thay đổi, ngay cả phản bội để quay qua chống luôn những người đã và đang bỏ thân ra để đấu tranh cho quê hương, cho dân tộc.
Dù đồng ý hay không với phương cách của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, chúng ta cũng phải công nhận rằng ngài chống nhà cầm quyền trực diện, suốt hơn 30 năm qua. Bởi vậy, với tư cách của một con dân nước Việt, nếu còn chút liêm sĩ và tự trọng, chúng ta phải kính trọng ngài. Nhóm chủ trương Tin Paris ở bên này trời với chăn êm nệm ấm, quấn thêm vào người cả trăm thứ bảo đảm thêm cho tự do, nhân quyền nơi họ đang sinh sống, họ có quyền gì đả kích ngài, hỗn xược với ngài?
Nhóm chủ trương Tin Paris khoan cho là họ hay vì người tài nước chúng ta không thiếu. Hãy chứng minh với mọi người rằng họ có lòng, và can đảm đủ để làm 1/1000 những gì ngài đã làm, và làm rất âm thầm trước khi chúng ta ở hải ngoại biết về ngài, sửng sốt, kinh ngạc, và thán phục về sự quả cảm, coi thường cái chết của ngài.
Và cuối cùng, nhóm chủ trương Tin Paris khoan cho là họ hay trong khi họ đã không đưa ra một phương cách gì để bổ sung vào, hay thay thế phương cách của ngài Thích Quảng Độ.
Tin Paris đừng làm người cứ đi bên cạnh cuộc đời và cứ chỏ miệng chưởi bới, đả kích thiếu xây dựng. Hãy chứng minh với mọi người rằng họ có ý thức tập thể để đoàn kết, ý thức chính trị để hợp quần, trong một cuộc chiến mà phe Quốc gia đã có lắm điều thua thiệt.
Đấu tranh chỉ có thắng hay bại, chứ đấu tranh tự nó không khó. Có điều, đấu tranh chung với nhóm người cứ ra vẻ đấu tranh để mượn thế gây chia rẽ, đả kích 10 phương 8 hướng, từ Quốc cho đến Cộng, như nhóm chủ trương Tin Paris, mới khó.
Kim Dung
Thiên hạ kháo với nhau rằng đòn thù của những người thù với ta không đau bằng những đòn thù của những người trước đây là bạn của ta … quả không sai một chút nào. Ít nhất là không sai trong trường hợp tờ điện báo Tin Paris của ông Hứa Vạng Thọ.Nói theo một cách khác, điện báo Tin Paris đã chứng minh câu nói đó rất ư là hùng hồn qua bài viết “phong trào kháng chiến chống giặc Tàu tại gia” - nguyên văn - cố tình đả kích thầy Quảng Độ không thương tiếc. Đau thay, qua văn phong đến cách lý luận của bài đả kích này, nếu có thể gọi đó là văn phong và lý luận, chúng ta chỉ thấy được những làn hơi đứt khoảng, những ý tưởng vụn vặt, những tâm tư thù hận.
Bài viết không mạch lạc đã đành mà cũng không trôi chảy để tải được ý. Cố hiểu lắm cũng không thể hiểu tại sao tác giả lại đả kích Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và đả kích vì lý do gì.
Chỉ biết tác giả cố tình đả kích và đả kích rất thù hận, hỗn xược. Thế thôi!
Ước gì đọc giả hiểu rõ tại sao họ phang … ngang như vậy. Đồng ý hay không lại là chuyện khác, nhưng ít ra khi cho đăng một bài đả kích, nhất là đả kích hận thù như vậy, nhóm chủ trương nên giữ lấy lề, và kính trọng đọc giả, họ không thể làm rộng đường dư luận rất ư là trái mùa qua một bài viết hoàn toàn bất chấp cú pháp. Nói nào ngay văn phong của bài đả kích này thua xa bài báo được đăng trên trang Công An Việt Cộng, vô tình hay cố ý, cũng được tung ra trong cùng một thời gian để đả kích ngài Thích Quảng Độ. Như họ!
Điện báo Tin Paris và báo Công An Nhân Dân cùng một thời điểm mạ lỵ Đại Lão Thích Quảng Độ không tiếc lời.
Và nói nào ngay, bài báo của Công An Việt Cộng đã nêu lý do, họ phân định rõ ràng đâu là bạn, đâu là thù, lằn ranh Quốc và Cộng với họ bao giờ cũng đậm nét. Còn nhóm chủ trương Tin Paris thì ngược lại. Họ chỉ đả kích và đả kích, ngoài ra không có gì là rõ ràng, kể cả lằn ranh Quốc và Cộng. Tất cả chỉ mờ mờ nhân ảo.
Việt Cộng phân định chúng ta rất là rõ ràng, còn nhóm chủ trương Tin Paris đã phân biệt ai là bạn, ai là thù sau 34 năm làm người mất nước, mất quê hương?
Với lối chống Cộng của họ, xin hỏi, đã giúp gì trong công cuộc chung qua do sự phân biệt đục ngầu, qua lập trường cứ thay đổi với tốc độ chóng mặt hơn cả mức lên xuống của nền chứng khoán ở Mỹ.
Khi bênh, khi chống, hay gặp ai cũng chống, làm gì cũng đả kích là cách chống Cộng hữu hiệu nhất mà họ chọn hay sao?
Đại Lão Hòa Thượng Quảng Độ đã chống đối mãnh liệt, can đảm ngay trong lòng của địch, từ lúc nhóm chủ trương Tin Paris mới co giò bỏ chạy, đang cố an thân, hoàn hồn trong bối cảnh đầy dẫy thịt và rượu bên kia phương trời Tây. Ngài đòi hỏi Tự Do Dân Chủ - Tự Do Tôn Giáo cho một nước Việt Nam lạc hậu thụt lùi so với các nước Á Châu trong vùng.
Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ vì dân tộc, vì quê hương. Ngày nào Việt Nam còn quốc nạn và pháp nạn, ngày ấy ngài Quảng Độ còn tiếp tục đấu tranh, không thay đổi. Và chúng ta, những con dân nước Việt may mắn được tạm cư trên những bến bờ tự do, trong đó có nhóm chủ trương Tin Paris, sau khi hoàn hồn, có quyền thay đổi, ngay cả phản bội để quay qua chống luôn những người đã và đang bỏ thân ra để đấu tranh cho quê hương, cho dân tộc.
Dù đồng ý hay không với phương cách của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, chúng ta cũng phải công nhận rằng ngài chống nhà cầm quyền trực diện, suốt hơn 30 năm qua. Bởi vậy, với tư cách của một con dân nước Việt, nếu còn chút liêm sĩ và tự trọng, chúng ta phải kính trọng ngài. Nhóm chủ trương Tin Paris ở bên này trời với chăn êm nệm ấm, quấn thêm vào người cả trăm thứ bảo đảm thêm cho tự do, nhân quyền nơi họ đang sinh sống, họ có quyền gì đả kích ngài, hỗn xược với ngài?Nhóm chủ trương Tin Paris khoan cho là họ hay vì người tài nước chúng ta không thiếu. Hãy chứng minh với mọi người rằng họ có lòng, và can đảm đủ để làm 1/1000 những gì ngài đã làm, và làm rất âm thầm trước khi chúng ta ở hải ngoại biết về ngài, sửng sốt, kinh ngạc, và thán phục về sự quả cảm, coi thường cái chết của ngài.
Và cuối cùng, nhóm chủ trương Tin Paris khoan cho là họ hay trong khi họ đã không đưa ra một phương cách gì để bổ sung vào, hay thay thế phương cách của ngài Thích Quảng Độ.
Tin Paris đừng làm người cứ đi bên cạnh cuộc đời và cứ chỏ miệng chưởi bới, đả kích thiếu xây dựng. Hãy chứng minh với mọi người rằng họ có ý thức tập thể để đoàn kết, ý thức chính trị để hợp quần, trong một cuộc chiến mà phe Quốc gia đã có lắm điều thua thiệt.
Đấu tranh chỉ có thắng hay bại, chứ đấu tranh tự nó không khó. Có điều, đấu tranh chung với nhóm người cứ ra vẻ đấu tranh để mượn thế gây chia rẽ, đả kích 10 phương 8 hướng, từ Quốc cho đến Cộng, như nhóm chủ trương Tin Paris, mới khó.
Kim Dung
Subscribe to:
Posts (Atom)