Monday, September 29, 2008

Mở lại hồ sơ CSVN thảm sát 3,157 đồng bào làng BA CHÚC, tỉnh An Giang đêm 18/4/1978

Monday, May 03, 2004 2:59:31 pm

Có ai về làng BA CHÚC, gần vùng biên giới Việt- Miên, thuộc tỉnh An Giang, xin hãy ghé thăm nhà mồ Ba Chúc được xây dựng giữa chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu được Nhà nước CSVN công nhận là “Di Tích Căm Thù” vào năm 1980, để đánh dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Pôn Pốt qua 11 ngày (từ 18 đến 29/4/1978) đã xâm lược và sát hại trên 3,000 đồng bào vô tội tại xã Ba Chúc.

Nhà mồ hình lục giác, bên trong nhà mồ là một khung hộp kính có 8 cạnh, chỉ còn chứa đựng 1.159 bộ hài cốt được phân loại giới tính, tuổi tác... Sự thật như thế nào? Ai đã ra lệnh tàn sát tập thể trên 3,000 đồng bào vô tội? Có phải tên đồ tể Pôn Pốt ra lệnh cho bọn diệt chủng Khmer Ðỏ giết vì hận thù chủng tộc? Hay tên đồ tể nào khác ra lệnh giết vì nhu cầu phục vụ cho một âm mưu chính trị đen tối nào đó?

Ngày 6/4/2004 vừa qua. Nhân dịp báo Toledo Blade đã đoạt giải báo chí Pulitzer về loạt bài phóng sự điều tra về những vụ thảm sát thường dân của một số binh sĩ Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao CSVN Lê Dũng nói: “Hành động tàn sát dã man thường dân vô tội Việt Nam của một số binh sĩ Hoa Kỳ, trong đó có vụ việc được báo Toledo Blade nêu ra là hành động tội ác, vi phạm luật quốc tế, gây công phẫn trong dư luận. Việc một giải báo chí danh tiếng được trao cho báo Teledo Blade cho thấy công luận Hoa Kỳ đã ghi nhận đóng góp của báo nầy trong việc điều tra, đưa ra ánh sáng những tội ác đã bị che giấu trong nhiều năm, góp phần đem lại công bằng cho các nạn nhân và ngăn chận những tội ác như vậy xảy ra trong tương lai ...”

Sau khi chúng tôi nhận được lá thư tố cáo tội ác CS Việt Nam giết người tập thể lại làng Ba Chúc của ông Trần H. gởi cho chúng tôi. Lá thơ đề ngày 21 tháng 5 năm 1999. Từ đó, chúng tôi đã âm thầm điều tra, nghiên cứu và phối kiểm các tài liệu trong và ngoài nước, các dữ kiện do những nhân chứng còn sống, hiện đang định cư tại tiểu bang Virginia và Maryland cung cấp... và đã đến lúc chúng tôi phải làm theo lời yêu cầu của ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao CS Việt Nam, mở lại hồ sơ vụ án, đưa “sự cố” nầy ra trước ánh sáng để dư luận Quốc Tế, trong và ngoài nước biết thêm về tội ác tày trời, giết người tập thể còn dã man, khủng khiếp hơn cả Tết Mậu Thân 1968.

Nạn nhân gồm cả đàn bà, trẻ con Việt Nam lẫn Cam Bốt bị thảm sát tại các chùa, trường học tại làng Ba Chúc cách biên giới Việt - Miên khoảng 7 cây số, và chỉ trong vòng một đêm tắm máu: 18 tháng 4 năm 1978 (chớ không phải 11 ngày như bọn CSVN rêu rao) số người bị giết chính xác là 3.157 người. Có như thế mới góp phần đem lại công bằng cho các nạn nhân bị lính Mỹ thảm sát trong thời kỳ chiến tranh và các nạn nhân bị lực lượng vũ trang thuộc Quân Ðội Nhân Dân tàn sát tập thể đồng bào sau khi thống nhất đất nước bằng vũ lực.

Còn cái dã man, vô nhân đạo nào bằng là bọn CSVN đã đem những bộ hài cốt của những nạn nhân do chúng thảm sát, đem trưng bày trong những hộp kính để gây ảo giác căm thù chủng tộc Việt Nam - Cam Pu Chia; thay vì, đem chôn cất họ tử tế cho phù hợp với truyền thống và đạo lý dân tộc: nghĩa tử là nghĩa tận. Những nguyên nhân chính đưa đến việc Tập đoàn Lãnh đạo Ðảng CSVN đã không ngần ngại tắm máu dân làng Ba Chúc vào đêm 18 tháng 4 năm 1978 như sau:

I. TÌNH HÌNH NỘI BỘ VIỆT NAM - CAM BỐT SAU NĂM 1975:

Theo sự tiết lộ của Hoàng Tùng, Tổng biên tập báo Nhân Dân và là Ủy viên Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng CSVN: Bắc Bộ Phủ đã có ý đồ chiếm Cam Bốt từ năm 1970 - 1972. Cuối năm 1976, Ðại hội IV Ðảng Lao Ðộng đổi thành Ðảng CS Việt Nam dưới sự giám sát của lý thuyết gia Mikhai A. Suslov, trưởng phái đoàn Sô Viết thì hầu hết Ủy viên trong Bộ Chính Trị đã nối đuôi Lê Duẩn thần phục Mạc Tư Khoa: Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười. Những tên thân Trung Cộng như Lê Ðức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Phạm văn Ðồng, Phạm Hùng... phải đổi phía để sống còn. Ngay cả Trường Chinh cũng tỏ ra ôn hòa. Và Ðại Hội IV của Ðảng CS Việt Nam chấp thuận đề án của Lê Duẩn xúc tiến việc thành lập Liên Bang Ðông Dương bằng cách thuyết phục và nếu cần dùng áp lực quân sự để buộc Cam Bốt và Lào gia nhập. Tưởng cũng nên nhắc lại: Tháng 9 / 1975, khi Sihanouk va Khieu Samphan, Chủ Tịch Nước của chế độ Khmer Ðỏ đến Hà Nội dự lễ Quốc Khánh của CS Việt Nam. Phạm văn Ðồng mời phái đoàn Căm Pu Chia dự tiệc thân mật với phái đoàn MTGPMN Việt Nam và Lào. Nhưng, Khieu Samphan từ chối và sau đó giải thích với Sihanouk rằng đó là cái bẫy của CS Việt Nam để tiến tới thành lập Liên Bang Ðông Dương. Sau Ðại hội IV, Lê Duẩn và BCT/TƯ/Ðảng CS nhận thức rằng: Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Liên Xô là đối lập với Trung Quốc và sự liên kết giữa Trung Quốc và Cam Pu Chia sẻ áp lực quân sự nặng nề tại vùng biên giới phía Tây Nam.

II. NHỮNG CUỘC XUNG ÐỘT VŨ TRANG GIỮA VIỆT NAM VÀ CAM PU CHIA TẠI VÙNG BIÊN GIỚI PHÍA TÂY NAM:

1. QUÂN ÐỘI CAM PU CHIA TẤN CÔNG VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT VÀO NĂM 1977:

THÁNG 3 NĂM 1977: Ieng Sary, Ngoại trưởng Khmer Ðỏ sang Bắc Kinh nối lại mối quan hệ thân thiết cũ. Trong buổi tiếp tân có Lý Tiên Niệm, Phó Thủ Tướng và tướng Vương Thăng Long, Tổng Tham Mưu Phó QÐ Trung Quốc khoản đãi phái đoàn Cam Pu Chia cho thấy sự hợp tác gắng bó giữa hai nước.

THÁNG 4 NĂM 1977: như để cảnh báo Việt Nam. Trong buổi tiếp tân tại Tòa Ðại Sứ Cam Pu Chia, Ngoại trưởng Hoàng Hoa công khai tuyên bố: nước Cam Pu Chia đang bị kẻ thù phá hoại và Trung Quốc sẽ sát cánh với những dân tộc nhỏ yếu chống lại những hành động can thiệp và gây hấn của các lân bang. Nhận được sự hậu thuẫn của Trung Quốc, hai tuần sau, đúng vào ngày Việt Nam tưng bừng kỷ niệm năm thứ hai “Mùa xuân đại thắng 1975”, quân đội Cam Pu Chia bất thần mở cuộc tấn công qui mô vào những làng, xã và những thị trấn dọc biên giới thuộc tỉnh An Giang. Và sau đó rút về bên kia biên giới.

2. QUÂN ÐỘI CAM PU CHIA TẤN CÔNG VIỆT NAM LẦN THỨ HAI VÀO TỈNH TÂY NINH:

NGÀY 27 THÁNG 9 NĂM 1977: tên đồ tể Pol Pot lên đài phát thanh đọc bài diễn văn dài 5 tiếng đồng hồ, chính thức xác nhận vai trò lãnh đạo của mình và tổ chức Angka là Ðảng Cộng Sản Cam Pu Chia. Một ngày sau khi ra mắt, Pol Pot lên đường đi Bắc Kinh và Bình Nhưỡng. Lần đầu tiên công du với tư cách là Chủ tịch Ðảng và Thủ Tướng. Pol Pot được đón tiếp trọng thể. Cờ và biểu ngữ giăng đầy Thiên An Môn.

Ba ngày trước đó, để chứng tỏ quyết tâm chống Việt Nam của mình đối với Trung Quốc. Pol Pot đã ra lệnh cho Quân đội Quân Khu Ðông tấn công vào lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Tây Ninh. Việt Nam vẫn tự hạn chế. Không cho bộ đội vượt biên phản công đồng thời cách chức Tướng Tư Lệnh quá khích Trần văn Trà và Tướng Lê Ðức Anh thay thế. Một mặt, Ðảng CS Việt Nam gởi điện văn chúc mừng lễ ra mắt Ðảng Cộng Sản Cam Pu Chia. Một mặt, bí mật gởi Phan Hiền sang Bắc Kinh nhờ Trung Quốc dàn xếp cho gặp phái đoàn Cam Pu Chia. Cuộc tiếp xúc không đi đến đâu. Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đều nhất trí ủng hộ Kmer Ðỏ. Trung Quốc bắt đầu ồ ạt chở vũ khí và chiến cụ tới cảng Komphong Som để trang bị tận răng cho quân đội Cam Pu Chia. CSVN buộc phải đứng hẳn về phía Liên Xô tìm cách phản công chống lại Khmer Ðỏ quyết liệt hơn.

3. QUÂN ÐỘI VIỆT NAM PHẢN CÔNG VÀO NỘI ÐỊA CAM PU CHIA CUỐI NĂM 1977:

VÀO NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM 1977: Lực lựơng vũ trang QÐCS Việt Nam mở những trận tấn công thăm dò vào sâu trong lãnh thổ Cam Pu Chia. Quan hệ ngoại giao giữa hai bị cắt đứt và công khai hóa sự tranh chấp lãnh thổ và điều động thêm lực lượng vũ trang tăng cường hệ thống phòng thủ dọc theo biên giới. Bị Quốc tế tố cáo và lên án xâm lăng Cam Pu Chia, quân đội viễn chinh của CS Việt Nam buộc phải rút về nước vào ngày 6 tháng 1 năm 1978.

4. QUÂN ÐỘI CAM PU CHIA TẤN CÔNG VIỆT NAM LẦN THỨ BA VÀO NHỮNG THÁNG ÐẦU NĂM 1978:

NGAY TỪ NHỮNG NGÀY ÐẦU THÁNG GIÊNG NĂM 1978: Tại vùng biên giới cực Nam. Các đơn vị trực thuộc Sư Ðoàn 2 và 210 của Quân khu Tây Nam Cam Pu Chia đã tấn công và chiếm đóng các xã Phú Cường, Khánh An, Khánh Bình và các huyện Hồng Ngự và Hà Tiên thuộc lãnh thổ Quân khu IX Việt Nam. Và đây là cuộc tấn công vào lãnh thổ Việt Nam lần cuối cùng, vì họ sẽ chẳng còn có cơ hội nào vượt biên tấn công Việt Nam nữa. Tướng Trần Nghiêm nguyên là Tư lệnh Phó của Tướng Lê Ðức Anh. Sau khi Lê Ðức Anh thay Trần Văn Trà. Trần Nghiêm được đề bạt lên làm Tư Lệnh Quân Khu IX, chịu trách nhiệm điều động 3 sư đoàn chính quy cơ hữu, gồm các Sư đoàn 4, 8 và 330 cùng với 2 trung đoàn chủ lực cơ động tĩnh Hậu Giang và Ðồng Tháp. Sư đoàn 341 do tướng Vũ Cao làm Tư Lệnh được điều từ Quân Khu VII đến tăng phái cho Quân Khu IX cùng với sự yểm trợ của không quân, pháo binh, thiết giáp... với số quân áp đảo: 4 Sư đoàn chính quy và 2 Trung đoàn cơ động của CSVN và lực lượng yểm trợ hùng hậu như vậy, mà phải mất hai tháng phản công mới đánh bật sư đoàn 2 và 210 của Cam Pu Chia ra khỏi biên giới và tái chiếm lại lãnh thổ đã mất.

ÐẦU THÁNG 3 NĂM 1978: Tình hình biên giới phía Tây Nam hoàn toàn yên tĩnh. Sư đoàn 341 được trả về Quân đoàn 4 /QKVII sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Tướng Trần Nghiêm tái phối trí ba sư đoàn cơ hữu 4, 8, 330 và 2 trung đoàn cơ động tĩnh Hậu giang và Ðồng Tháp vào nhiệm vụ phòng thủ diện địa. Riêng Sư Ðoàn 330 được chỉ định thành lập tuyến phòng thủ an ninh lãnh thổ huyện Tri Tôn.

5. TÌNH HÌNH CAM PU CHIA SAU KHI SƯ ÐOÀN 2 VÀ 210 RÚT VỀ BÊN KIA BIÊN GIỚI:

BẮT ÐẦU TỪ THÁNG 3 NĂM 1978 và những tháng sau đó. Cuộc thanh trừng nội bộ ở Quân Khu Ðông càng ngày càng trở nên gay gắt và lên đến cao điểm vào ngày 24 tháng 5 năm 1978, quân của Ke Paulk - Bí thư Khu ủy Trung tâm của Khmer Ðỏ - thuộc quân khu Trung Ương kéo đến SOUNG, bao vây tổng hành dinh của quân khu Ðông, bắt giam tất cả sĩ quan chỉ huy và nhiều cuộc chạm súng đã xảy ra giữa đôi bên. Sau cuộc thanh trừng, Sư đoàn 4 coi như bị xóa sổ. Các sư đoàn còn lại gồm 3, 5, 280 bị suy yếu hẳn.

Bộ Chính Trị/TƯ/ Ðảng CSVN không bỏ lỡ cơ hội, triệt để khai thác nhược điểm của địch là sự xâu xé nội bộ và mâu thuẫn hàng ngũ của Khmer Ðỏ theo đúng sách lược của Lénine: “Phải chộp thật nhanh cơ hội chia rẽ của địch”, bằng cách ráo riết chuẩn bị: tâm lý quần chúng và dư luận quốc tế. Ðó là lý do bọn CSVN đạo diễn tấn thảm kịch cực kỳ dã man, tàn bạo và ghê tởm: tắm máu 3.157 đồng bào vô tội tại làng Ba Chúc trong đêm 18/4/1978, rồi đổ tội cho bọn đồ tể Khmer Ðỏ gây ra. Hành động ném đá dấu tay là thủ đoạn chính trị gian trá, bỉ ổi và dơ bẩn của bọn CSVN đã và đang đánh lừa dư luận hơn hai thập niên qua, đã đến lúc phải được phô bày ra ánh sáng cho công luận xét xử.

III. PHẢI TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ:

Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên. Sau khi phối kiểm và phân tách tỉ mỉ thơ tố cáo của ông Trần H. và Câu chuyện làng Ba Chúc ở biên giới Miên -Việt của ông Hoàng Quý, đưa lên lenduong. Net ngày 5/02/04. Ông Trần H. quy trách nhiệm cho bọn CSVN gây nên cái chết cho trên 3,000 đồng bào vô tội tại làng Ba Chúc. Còn ông Hoàng Quý thì quy trách nhiệm tội ác nầy do đồ tể Pol Pot, nhưng đưa ra con số nạn nhân chính xác là 3.157 người. Mốc thời gian là ngày 18/4/1978. Nhưng, tài liệu về Cụm nhà mồ Ba Chúc mà tôi đọc được trên Saigonnet thì tội ác man rợ nầy do bọn Pon Pot gây ra từ 18/4/1978 đến ngày 29/4/1978 (11 ngày). Một điểm trùng hợp rất quan trọng là ông Trần H. và Hoàng Quý đều xác nhận là tất cả các nạn nhân đều bị thảm sát tại các chùa và trường học. Chỉ nội một điểm nầy thôi cũng đủ tố cáo bọn CSVN là đích danh thủ phạm.

Ông Trần H. nói (nguyên văn): “...CSVN đưa Sư Ðoàn 30 CSBV án ngữ dầy đặc dọc biên giới Miên Việt tỉnh Châu Ðốc cũ. Chiều đến thì bọn cán bộ và và bộ đội Cộng Sản bắt dân tập trung vào chùa hay trường học ngủ để chúng bảo vệ. Nửa đêm, dân đang ngủ mê. Chúng giả bộ đội Miên tấn công vào chùa và trường học bằng lựu đạn, cổng ngoài khóa chặt. Sau đó, chúng nổi lửa đốt sạch làm hằng ngàn dân vô tội phải chết oan uổng dưới bàn tay vô thần của CSVN. Nhứt là tại làng Ba Chúc thuộc quận Tri Tôn, tỉnh An Giang, có trên 3,000 người bị chúng giết tập thể. Nay chúng cho xây một ngôi nhà kiến để chứa đống xương vô định chất cao bằng đầu... ”

Ông Hoàng Quý nói (nguyên văn): “...Thời cuộc đã biến chuyển khôn lường, sau đó chính 2 lực lượng anh em này quay mũi súng vào nhau, lực lượng vũ trang của Khờ me đỏ đã tấn công vào làng Ba Chúc, cách biên giới khoảng 4 dậm, vào ngày 18-04-1978... Tổng cộng có 3.157 người cả Việt Nam lẫn Cam bốt bị thảm sát tại các chùa và trường học tại Việt Nam. Những cuộc tấn công khác tương tự như trường hợp nầy là những lý do mà cộng sản Việt Nam nêu lên để xua quân tiến chiếm Cam Bốt vào cuối năm đó...”

IV. VẠCH TRẦN TỪNG ÐIỂM CHỨNG MINH TỘI ÁC CỦA CSVN TRƯỚC DƯ LUẬN QUỐC TẾ VÀ ÐỒNG BÀO TRONG & NGOÀI NƯỚC:

* Ðiểm một: Chúng tôi không thấy chính quyền địa phương đề cập đến con số thiệt hại nhân mạng về phía thường dân sau 3 lần tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là 2 tháng đầu năm 1978 là thời gian quần thảo dữ dội giữa 4 sư đoàn, 2 trung đoàn cơ động CSVN với lực lượng yểm trợ hùng hậu để đánh bật 2 sư đoàn Cam Pu Chia ra khỏi biên giới. Ðiều đó chứng tỏ rằng, người nông dân Miền Tây Nam Bộ đã tích lũy quá nhiều kinh nghiệm đau thương qua bao thế thệ chạy giặc: giặc Tây thực dân đi bố, giặc Việt Minh Cộng Sản thu thuế, giết người đoạt của, giặc Thổ dậy “Cáp Duồn”... nên phản ứng của họ vô cùng bén nhạy. Mỗi khi có biến động là nhà nhà báo động bằng đủ mọi phương tiện: Gõ mõ, gõ thùng thiếc, gióng trống, khua chiêng, nồi, niêu, xoong, chảo... để kịp thời bồng bế nhau chạy giặc “bỏ của chạy lấy người”. Họ không bao giờ nằm yên trong nhà, ngoan ngoãn chờ cho bọn Khmer Ðỏ đến lùa họ đi. Và một điều chắc chắn là khi họ nhận diện binh lính Khmer Ðỏ, họ sẽ chạy bung ra, chạy tán loạn, chạy bán sống bán chết giống như hồi Tết Mậu Thân 1968, dân Miền Nam chạy giặc Việt Cộng, dễ dầu gì bọn Khmer Ðỏ tập trung họ vào các chùa, trường học một cách dễ dàng để tàn sát tập thể. Hơn nữa, địa thế làng Ba Chúc dưới chân núi Tượng và bên kia là núi Dài là một địa thế lý tưởng cho đồng bào lẩn trốn dễ dàng.

Chúng tôi xin dẫn chứng một trường hợp điển hình: Những vị cao niên nào sống miền Tây Nam Bộ thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sóc Trăng... chắc chưa quên những cuộc nổi dậy bất thần đầy chết chóc của những đồng bào người Việt gốc Miên sống trong các “sóc” vùng sâu. Và danh từ “Thổ dậy” là tiếng báo động khẩn cấp đồng bào Việt gọi nhau chạy lánh nạn. Những người Miên từ trong các sóc đồng loạt ùa ra, tay cầm phảng, cuốc, xẻng... tay cầm chai rượu “phất xạ” (uống rượu), họ ào ạt xông vào các xóm làng của đồng bào ta như cơn gió lốc, rượt đuổi dân làng chạy tán loạn. Họ vừa chạy, vừa thét: “Dơ! Cáp Duồn, bòn ới” (Nào! Giết tụi Việt Nam, bây ơi!” Trong đơn say rượu, say máu, họ gặp đàn bà chém theo đàn bà, trẻ con đâm theo trẻ con, gặp đâu chém đó. Bọn đồ tể Khmer Ðỏ cũng thế! Một khi tràn qua biên giới Việt Nam, họ có lòng nhân đạo đến độ phải tập trung đồng bào ta vào các chùa chiềng đọc kinh cầu nguyện trước khi hành quyết, hoặc dồn trẻ con vào các trường học vì sợ bọn trẻ chết xuống dưới âm phủ sẽ trở thành những con ma mù chữ?

* Ðiểm hai: Nếu như muốn cưỡng bách trên 3,000 người sống rải rác trong làng Ba Chúc với một địa thế hiểm trở như thế, cách biên giới Việt Miên khoảng 7 km và cách kinh Vĩnh Tế khoảng 5 km vào các địa điểm tập trung. Chúng tôi nghĩ, Pol Pot phải huy động bao nhiêu sư đoàn Khmer Ðỏ mới làm nổi được việc đó? Và làm thế nào những sư đoàn nầy lọt qua tuyến phòng thủ biên giới Tây Nam dầy đặc của 3 sư đoàn chính quy 4, 8, 330 của CSVN và 2 trung đoàn cơ động tĩnh? Và hơn thế nữa, bọn đồ tể Khmer Ðỏ làm thế nào kéo dài cuộc thảm sát trong suốt 11 ngày đêm mà các đơn vị chịu trách nhiệm phòng thủ biên giới của CSVN thuộc Quân khu IX không hề hay biết và không có phản ứng gì cả? Chẳng lẽ, tất cả đều ngủ gục cả? Hay bận lo đi ăn trộm trâu của đồng bào?

Chúng tôi cũng xin nhắc lại: Trước 30/4/1975, Quân Ðoàn 4/ QLVNCH chỉ có 3 Sư đoàn chủ lực 7, 9 và 21 BB đã hành quân truy lùng và càn quét các lực lượng vũ trang chính qui CSBV để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ 16 tỉnh Miền Tây và làm chủ tình hình cho đến 10 giờ sáng ngày 30/4/1975, chưa hề để một quận, một tỉnh nào lọt vào tay quân CSBV xâm lược. Và nếu như 3 sư đoàn kể trên được phối trí vào nhiệm vụ phòng thủ biên giới phía Tây Nam thì chưa chắc một con chuột chui qua lọt, đừng nói chi là một đơn vị nhỏ của quân CSBV.

* Ðiểm ba: Thời điểm bọn Khmer Ðỏ thảm sát đồng bào tại làng Ba Chúc từ 18/4/1978 đến 29/4/1978 lại càng không hợp lý. Vì trong thời gian đó, ở bên kia biên giới, cuộc thanh trừng nội bộ đang xảy ra, gay gắt và quyết liệt ở Quân khu Ðông sắp lên đến cao điểm. Làm sao Pol Pot có thể điều động quân đội Cam Pu Chia tấn công Việt Nam?

* Ðiểm bốn: Người nông dân Việt Nam nói chung và Miền Tây Nam Bộ nói riêng, họ chỉ bằng lòng di dân vào các địa điểm tập trung an toàn dưới sự hướng dẫn của chánh quyền địa phương và sự bảo vệ an ninh của quân đội. Hệ thống “Ấp Chiến Lược” được thiết lập trong thời chiến tranh Việt Nam là một thí dụ điển hình. Ðiều nầy khẳng định phải là cán bộ và bộ đội CSVN mới có thể tập trung dân làng vào các địa điểm ấn định theo kế hoạch đã vạch sẵn. Và Sư Ðoàn 30 (tên gọi tắt của đồng bào địa phương) chính là Sư Ðoàn 330 chính quy, được chỉ định thi hành công tác nầy vào chiều ngày 18/4/1978 vì sư đoàn 330 được thành lập tại Miền Nam trước khi tập kết ra Miền Bắc (lúc đó, Tư Lệnh là tướng Ðồng văn Cống) thì dân làng Ba Chúc mới có lòng tin đi theo chúng vào các chùa và trường học để được chúng bảo vệ an ninh. Sau đó, chúng khóa chặt cửa lại, chờ khi đêm đến, bộ đội CSVN đội lốt quân Khmer Ðỏ kéo đến giết sạch, đốt sạch đúng như lời tố cáo của ông Trần H. và đó là sự thật 100% không thể chối cãi. Hiện nay, một vài nhân chứng có thể còn sống sót như bà Trần thị C., ông Nguyễn văn Ch... một nhân chứng quan trọng là một thầy giáo cấp 2 ở kinh Vĩnh Tế tên Tr. Q. L.đã dám nói lên sự thật với đồng bào địa phương nên bị đuổi khỏi nhiệm sở và bị tên Giám đốc Công an tỉnh An Giang - bí danh Sáu Nhỏ - bắt giam 2 năm để cảnh cáo. Hiện giờ, không biết ông còn sống hay đã chết...

*Ðiểm năm: Tại sao bọn CS Việt Nam chọn dân làng Ba Chúc cách biên giới đến 7 km để tàn sát tập thể? Trước năm 1975, có ai đặt chân lần đầu đến làng Ba Chúc dưới chân núi Tượng và bên kia núi Dài, đều ngạc nhiên trước hết là nhìn đâu đâu cũng thấy chùa: trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái. Phần nhiều những ngôi chùa được xây cất rất đồ sộ, nền đá tường gạch. Nhưng, đặc biệt chùa nào cũng giữ theo truyền thống là lợp lá. Vào thời đó, riêng tại làng Ba Chúc có khoảng 15,000 tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương thờ vị Giáo Tổ Ðức Phật Thầy Tây An. Lấy giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo do Ðức Huỳnh Giáo Chủ đề xướng: Tứ Ân, Bát Chánh, Bát Nhẫn và tám điều răn của Ðức Thầy để tu thân. Ðiều nầy minh chứng dã tâm của bọn CSVN vừa muốn tiêu diệt tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vừa muốn đốt sạch luôn cả các chùa chiềng, nơi tín đồ PGHH thờ phượng các đấng thiêng liêng.

V. KẾT LUẬN:

Sau vụ thảm sát đẫm máu và cực kỳ man rợ khiến trên 3,000 đồng bào vô tội oan thác tại làng Ba Chúc trong đêm 18/4/1978. Ðộc chiêu “Ném đá dấu tay”, rồi giở trò “Mèo khóc chuột” của bọn CSVN đã thành công trong âm mưu tạo ra kẻ thù Khmer Ðỏ bằng xương, bằng thịt để kích động lòng hận thù chủng tộc Việt Nam - Cam Pu Chia, rồi triệt để khai thác sức mạnh lòng căm thù của quần chúng vào mục tiêu chính trị và quân sự để chuẩn bị xâm lăng Cam Pu Chia.

Tất cả bộ máy chiến tranh tâm lý của CSVN được động viên vào việc tuyên truyền rầm rộ. Những cuộc biểu tình, hội thảo diễn ra khắp nơi, các đài phát thanh, phát hình trong nước mở tối đa công suất lên án bọn diệt chủng Pol Pot đã xâm lược và sát hại hàng ngàn người dân xã Ba Chúc để tranh thủ dư luận Quốc Tế: Quân đội CSVN xua quân tấn công Cam Pu Chia chỉ vì lý do tự vệ chánh đáng chớ không phải xâm lăng Cam Pu Chia như đã từng bị lên án trước đó.

Ngày 15/6/1978. Chiến dịch tấn công Cam Pu Chia mở màng. Các sư đoàn chính quy 7, 9, 341 cùng với các vị yểm trợ hùng hậu lại tràn qua biên giới Việt - Miên, chiếm đóng một phần lãnh thổ sâu trong nội địa Cam Pu Chia từ 10 đến 40 km, trong đó có quận Prasaut. Lúc đó nhằm vào mùa mưa, Cam Pu Chia tăng cường thêm nhiều sư đoàn từ các nơi đến để phản công. Từ Prasaut, quân CSVN phải lùi về Chipru...

Virginia, ngày 18 tháng 4 năm 2004

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

Tài liệu tham khảo:

Chiến tranh Ðông Dương 3 của ông Hoàng Dung.
Tài liệu giải mật về cuộc chiến Hoa Việt 1979 của ông Lâm Lễ Trinh.
Nửa tháng trong miền Thất Sơn của ông Nguyễn văn Hầu
Thư tố cáo tội ác CSVN tại làng Ba Chúc đề ngày 21/5/1999 của ông Trần H.
Câu chuyện ngôi làng Ba Chúc ở biên giới Miên Việt của ông Hoàng Quý.



Sunday, September 28, 2008

Phan Nhật Nam: Tên Tuổi Cũ, Đầu Óc Mới ?


Nam
Nhân

(Quân nhân QLVNCH)

Là một quân nhân của QLVNCH, Nam Nhân tôi, trước 1975, rất ngưỡng mộ nhà văn quân đội Phan nhật Nam. Nhiều lúc chuyện vãn cùng bạn bè đã đề cập đến cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” để cùng nhau tâm đắc, khâm phục Binh chủng kỷ luật và hào hùng nhất của quân đội qua các chiến tích bảo quốc an dân; không quên khen ngợi ngòi bút ghi lại chính xác những chiến tích đó của nhà văn Đại-úy Dù, Phan nhật Nam.

Sau tháng 4 năm 1975, cũng như bao chiến hữu khác, Nam Nhân tôi cũng phải trải qua những năm tháng đọa đày trong lao tù của tập đoàn việt-gian-cộng-sản. Ra khỏi tù, lập gia đình, sau đó được định cư tại Anh-quốc, nhưng Nam Nhân tôi vẫn coi như mình tại ngũ, sẽ chiến đấu bằng phương thức khác phù hợp với hoàn cảnh mới: nghĩa là lấy bút thay súng. Chính những trang phóng sự chiến trường của Phan nhật Nam trước đây đã là một trong những nguyên nhân để Nam Nhân cùng vợ và một vài người bạn cho ra đời Tạp chí Hồn-Việt và web Hồn-Việt UK online, và nhiệt tình tham gia hoạt động trong Tổ chức Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở Miền Trung Anh-quốc. Rồi cũng từ đó, bao nhiêu lần biểu tình chống việt-gian-cộng-sản, thì cũng bấy nhiêu lần Nam Nhân tôi tham gia vào ban tổ chức, có cả vợ và con (từ vài ba tuổi cho đến lớn khôn) đều Quốc kỳ Vàng trong tay, ngạo nghễ phất lên trong tiếng hô đánh đổ tập đoàn việt-gian-cộng-sản bán nước giết dân.

Đánh việt-gian-cộng-sản bằng vũ khí truyền thông, điều quan trọng là phải tìm học lại để biết về KẺ ĐỊCH. Nghĩa là phải hiểu nguyên nhân ra đời của cái tổ chức gọi là "đảng cộng sản VN"; phải hiểu về công tác tổ chức của nó, trong từng giai đoạn có biến chuyển trong lịch sử của VN và một phần cần thiết nào đó của thế giới (có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến VN); phải hiểu về một số nhân sự chóp bu của nó. Nhưng cái khó nhất là "ngôn từ mà việt-gian-cộng-sản sử dụng trong các văn bản", cũng như các mánh khóe "chơi chữ" của chúng. Thí dụ: "Đóng tiền học tập 10 ngày" (không phải là tù 10 ngày; còn sau đó là tù nên không phải đóng tiền ăn và cũng không học); hoặc "duy trì 5 thành phần kinh tế" (không nói rõ thời hạn, nên có thể duy trì 5 ngày, 20 ngày hoặc nhiều hơn hay ít hơn thế). Rồi "độc lập" là không có quân lính nước ngoài, các cơ quan quyền lực đều do người VN đảm nhận (!?). Rồi "tự do" là tự do trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước XHCN, và "dân chủ" là "dân chủ tập trung" chứ không phải "dân chủ tư sản", v.v…

Trong tổ chức của việt-gian-cộng-sản, nhiều người đều nghe nói về cái gọi là "đảng (việt-gian-cộng-sản) lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", tưởng rằng mình hiểu về khái niệm đó, nhưng vẫn chứng tỏ là hiểu sai. Ngay như nhà nghiên cứu Minh Võ, cho đến nhà báo ngoại quốc kiểu Judy Stowe, cũng phải nói là đã hiểu còn "lơ mơ" lắm, nên mới coi tên Cuội Hoàng minh Chính là "cán bộ cao cấp" (không hiểu căn cứ vào đâu?). Họ lẫn lộn giữa "cao cấp" và "trung cao".

Cũng như họ không hiểu gì về hệ thống tổ chức ngành giáo dục ở VN dưới sự đô hộ của việt-gian-cộng-sản, nên mới gọi Trần Khuê là "giáo sư", rồi ngay Hoàng minh Chính cũng được gọi là " giáo sư", hay cái gọi là "dạy hộ bạn môn sử" của LỪA SĨ Nguyễn chí Thiện (!?). Không biết mà lầm rồi "sửa sai" cũng được thôi. Đáng tiếc là có số nào đó tự ái, giấu dốt, cứ bước sai tiếp. Tác hại của việc đó ra sao, nhất là đối với thế hệ trẻ và ngoại quốc, các vị đó có nghĩ đến không? (loại trừ tay sai của việt-gian-cộng-sản và các thày dùng nick ma để bàn tào lao cho đỡ buồn).

Một may mắn cho Nam Nhân là có dịp kết bạn vong niên với nhà báo lão thành Việt Thường, người sống dưới sự đô hộ của việt-gian-cộng-sản ở phía Bắc VN, phải "bị cải tạo lao động" từ đầu năm 1956 và đã phải làm đủ thứ nghề, từ cu-li bốc vác, cu-li đào đường cho đến đi dạy học và làm báo dưới chế độ việt-gian-cộng-sản cai trị, ở Bắc VN, sau tháng 4-1975 bị đi tù 10 năm, trong đó có một năm bị nhốt chung với người điên ở nhà thương Chợ Quán (Sài-gòn). Giấy ra tù ghi tội danh là "nhen nhúm tổ chức phản động". Chính nhờ nhà báo Việt Thường mà Nam Nhân tôi đã hiểu có hệ thống và căn bản về những gì liên quan đến cộng sản VN, nhìn ra được tội danh của cái gọi là "đảng cộng sản VN" là VIỆT GIAN; thấy được âm mưu của chúng, hiểu được cách lựa nhân sự cũng như cách cấy "sinh tử phù" vào tay sai để khó có thể phản lại chúng và v.v… Chính vì hiểu việt-gian-cộng sản, nên dịp tổng thống Bush dự hội nghị APEC ở VN, trong khi các tổ chức "chính trị cơ hội" ở hải ngoại, cũng như các loại Cuội dân chủ trong nước và một số các "nhà bình luận" đã hoan hỉ trên các phương tiện truyền thông, trên các diễn đàn Paltalk rằng chắc chắn kẻ này người nọ trong lũ Cuội sẽ được ông Bush gặp. Bs Nguyễn quốc Quân, của "Cao trào nhân bản" mừng rơn tin ở ông em là Bs Nguyễn đan Quế sẽ "làm nên lịch sử", thao thao trả lời phỏng vấn, thao thao giới thiệu "lộ trình 9 điểm" (chọn số 9 cho hên tột đỉnh mà) trên diễn đàn Paltalk, đến nỗi một ông "già đời trong nghề bàn tào lao bị… thuyết phục", cả ngày "cầu kinh" cho "lộ trình XIN CHO 9 điểm" ở khắp nơi, khắp chốn, hy vọng phen này "trúng độc đắc trên hoạn lộ"!!! Còn nhà báo Việt Thường, với vốn hiểu biết học hỏi từ cuộc sống chiến đấu chống việt-gian-cộng-sản đầy máu và nước mắt của nhân dân VN và của cả gia đình và chính bản thân, đã khẳng định trước ngày ông Bush đi VN rằng "Tổng thống Bush, qua vụ Cuội đeo cờ máu cạnh cờ hoa, diện đồ bộ và hơn hớn đến Tổng lãnh sự ở Sài-gòn, thì đã biết chúng là AI, chắc chắn sẽ không gặp ai cả!!!"

Đã từ nhiều năm về trước, nhà báo Việt Thường có kể cho tôi về lần gặp Phan nhật Nam ở Sài-gòn. Ông Việt Thường kể, đại ý: "Một lần được mời đến ăn giỗ ở nhà người bạn quen từ nhỏ là Nguyễn đỗ Hải, ngụ tại Lê Lợi, Sài-gòn. Bữa ăn có khá đông người (tuy nay đã già nhưng nhiều người còn sống). Thấy ông Việt Thường tới, mọi người đến trước vui vẻ gọi tên chào hỏi. Có một người lạ mặt, ngồi bên ông Hải, đứng dậy, lễ phép: "Thưa anh, anh có ở Z30D phải không ạ?".

Ông Hải trả lời giùm: "Đích thị là ông ta chứ còn ai nữa". Và, quay sang phía ông Việt Thường, ông Hải nói: "Phan nhật Nam, tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa, mà ông khen hay đấy". Rồi ông Hải cho đổi chỗ để ông Phan nhật Nam ngồi cạnh ông Việt Thường. Tuy ngồi cạnh, nhưng vì đông bạn cũ hỏi tíu tít nên ông Việt Thường cũng chẳng nói gì được với Phan nhật Nam. Tiệc tan, Phan nhật Nam biết ông Việt Thường ở Đường Tự Do (tức đồng khởi) nên xin được đến thăm. Thấy thế ông Hải nói: "Mình cho Nam ở căn hộ của mình ở Hai Bà Trưng, cùng tiện đường thôi". Và Phan nhật Nam đã đến ngồi chơi tại nhà riêng của ông Việt Thường, tối hôm đó (đầu năm 1991). Khi chia tay, ông Phan nhật Nam ngỏ ý muốn được lại thăm ông Việt Thường thường xuyên có tiện không, vì hai bên cư ngụ rất gần nhau. Ông Việt Thường khuyên không nên, vì ông không hoàn toàn được tự do, có nhiều con mắt để ý lắm, sợ không hay cho Phan nhật Nam. Rồi ông Việt Thường nói với tôi rằng: "Tôi rất biết tay Hải này làm những việc gì, nhưng không bao giờ tôi hỏi. Sống với cộng sản phải luôn tỏ ra không có tính tò mò, chỉ ham tán dóc truyện lăng nhăng, nhậu nhẹt, không bon chen kèn cựa, đôi khi còn tỏ ra lười cả suy nghĩ lẫn "lao động chân tay", luộm thuộm… thế thì mới yên thân. Chính vì thế, tôi rất muốn biết vì sao Phan nhật Nam, đáng ra sau khi ra khỏi Z30D, là phải về quê mà trình diện, chứ đâu lại được về Sài-gòn, mà lại QUEN được cái nhà ông Hải Béo này, lại còn được nuôi ăn và ở căn hộ cực sang trọng nữa chứ. Anh thấy đấy, cụ Vũ Hồng Khanh, ra khỏi cải tạo là phải về quê ở Nam Định; Hòa thượng Quảng Độ phải về quê ở Thái Bình. Tôi CAM ĐOAN với anh là Phan nhật Nam đã BỊ MUA RỒI. Chờ đấy, khi nào thấy Phan nhật Nam xuất hiện ở hải ngoại, cứ lẳng lặng theo dõi, anh sẽ phải đau lòng thấy thần tượng của anh đã bị cháy. Nhưng nhớ phải kín miệng và nhẫn nại, chờ cho rắn ra khỏi hang đã."

Tôi thắc mắc: - Có thể nào anh Phan nhật Nam tương kế tựu kế không?

Ô. Việt Thường: - Tụi việt-gian-cộng-sản là tụi Đại Lưu Manh, đã lọt vào lưới của nó là "hết trinh" ngay, như Mã Giám Sinh với Thúy Kiều vậy.

Và, bây giờ tôi thấy Phan nhật Nam đã như "con rắn ra khỏi hang". Có thể do bị hun khói mà phải ra mặt, hoặc có khi vì tưởng đã an toàn v.v…

Tập đoàn việt-gian-cộng-sản HIỂU RẤT RÕ RẰNG, vấn đề Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản là VẤN ĐỀ SINH TỬ của chúng. Chúng dùng đủ mưu ma chước quỷ để chinh phục cái Cộng đồng này. Trong bài: "Phe thân Mỹ ở đâu?", chúng tôi đã trình bày về cái bẫy của vở kịch "Hai Phe", hy vọng qua vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ ở Hà-nội vừa xong, quý bạn đọc đã nhận ra sự thật. Và, từ đó có thể thấy những bộ mặt đặc công đỏ Bùi Tín, Vũ thư Hiên… và đám lâu la đã và vẫn tiếp tục hướng dẫn việc thực thi nội dung của cái gọi là "nghị quyết 36". Trong đó Nguyễn chí Thiện sẽ đóng vai trò gì? Một số người sặc sụa Phở Bò, hoặc lâu la dùng nick ma để cố tô vẽ lại bộ mặt Thiện đang bị rơi râu, long phấn và cố lái sang chuyện mà đa số không ai đặt ra. Đó là Nguyễn chí Thiện "thật và giả". Những người có độc lập suy nghĩ chỉ muốn đặt hoài nghi rằng, qua những dữ kiện lịch sử VN, qua những trả lời bất nhất và đầy mâu thuẫn của Thiện, qua nội dung của tập thơ VÔ ĐỀ thể hiện rõ ràng LẬP TRƯỜNG CHÍNH TRỊ của tác giả, thì không thể nào có chuyện Tác Giả Thứ Thiệt của VÔ ĐỀ lại nhận làm thành viên QUAN TRỌNG CỦA TIỂU DIÊN HỒNG!!!

Trong số những kẻ ra công BẢO VỆ MỘT CÁCH MÙ QUÁNG Nguyễn chí Thiện (trước đó là bảo vệ Đỗ ngọc Yến) có PHAN NHẬT NAM, người ra khỏi trại cải tạo việt-gian-cộng-sản lại được về Sài-gòn, được nuôi ăn và được cấp một căn hộ sang trọng ở đường Hai Bà Trưng (ngay trước hãng bia BGI, gần Bến Bạch Đằng). Chính nhà báo Nga, Irina, có viết bài kể rằng có đến căn hộ nói trên để phỏng vấn Phan nhật Nam, nhưng Nam lánh mặt (chắc sợ lộ tẩy), nên bà ta đành đi gặp Trần Tiến.

Trước khi bị lộ tẩy, thì những thứ như Nguyễn cao Kỳ, Phạm Duy, Vũ ngọc Nhạ, Phạm ngọc Thảo, Phạm xuân Ẩn, Nguyễn hữu Hạnh, Nguyễn thành Trung, Vũ Hạnh, Lý quý Trung v.v… và nhiều lắm, cũng từng được coi là người "quốc gia" đấy. Cho nên phải nhìn vào việc làm của họ, và trong tình hình hiện nay thì phải phân biệt giữa NGƯỜI QUỐC GIA và việt-gian-cộng-sản với tay sai của chúng qua việc biểu hiện lập trường chính trị một cách cụ thể.

Vậy lập trường chính trị của Phan nhật Nam là gì? Chỉ xin tóm tắt mấy nét lớn để chia xẻ cùng quý bạn đọc:

Một là: Phan nhật Nam khéo léo qua SBTN, tuyên truyền cho XÓA BỎ HẬN THÙ (cái bẫy của việt-gian-cộng-sản) bằng đưa tên Du tử Lê, một đứa đã đưa thơ của hắn về VN để việt-gian-cộng-sản in cho. Và Nam bốc thơm Du tử Lê rằng: "42 tập thơ của anh chỉ nói về yêu, không hề ghét, không hề thù ai, kể cả KẺ LÀM HẠI MÌNH"(!?). Thời gian đó là lúc việt-gian-cộng-sản đang đàn áp dân oan và công nhân biểu tình. Chưa nói đến, đó chính là một trong những trọng điểm mà việt-gian-cộng-sản muốn Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản hãy QUÊN QUÁ KHỨ, XÓA BỎ HẬN THÙ. Xin quý bạn đọc tự khách quan nhận xét.

Hai là: Ngay năm 2008 này, Phan nhật Nam, đã cho quảng bá một bài, gọi là thơ, có tên "Tổ quốc chúng tôi, không là chế độ các anh", để tuyên truyền cho việc "hòa giải-hòa hợp" (cũng là cái bẫy của việt-gian-cộng-sản). Nam Nhân tôi đã viết bài lật tẩy, kính xin quý bạn đọc bớt chút thời gian tham khảo bài đó có đính kèm nơi cuối bài này.

Ba là: Bùi Tín, Vũ thư Hiên cho đến Hoàng minh Chính, Trần Khuê, Nguyễn thanh Giang… đã bị hải ngoại lột mặt nạ. Giờ đây đến lượt Lừa sĩ Nguyễn chí Thiện phải trả lời về những chuyện bốc phét do "ăn nhiều mất ngon, nói lắm mất khôn", như cha ông chúng ta thường căn dặn, nên đã lộ Mặt Thật như "giáo sư Trần Khuê", "viện sĩ" Nguyễn thanh Giang, "nhà dân chửi Nguyễn khắc Toàn" (xin tham khảo các audio của dân oan ở vườn hoa Mai xuân Thưởng, Hà-nội, nói về Toàn, có lưu trữ trên web VietnamExodus), thì Phan nhật Nam cùng Chu tất Tiến ra công bảo vệ, kiểu cãi chày cãi cối. Thí dụ Nguyễn chí Thiện đã thuộc hầu hết các bài thơ trong tập Vô Đề; coi đó là bằng chứng Thiện là tác giả! Quả là lý lẽ sắc bén như dao bổ củi. Nam Nhân có thể kể ra nhiều chục thí dụ về những người thuộc THƠ VĂN CỦA NGƯỜI KHÁC LÀU LÀU.

Giáo sư Ts Nguyễn chung Tú, Khoa trưởng Đại học Sài-gòn có thể đọc trơn như mỡ, và đọc ngược Truyện Kiều của …. Nguyễn Du.

Ai đã học ở trường Albert Sarraut ở Hà-nội, trước năm 1954, có thể còn nhớ Đức Cha Maillot, là người Pháp, nhưng lại dạy về tiếng Việt cho học sinh ở các trường Notre Dame du Rosaire (dòng tu các Mẹ áo trắng), trường A.Sarraut. Cha có thể đọc làu làu ngược không chỉ toàn bộ Truyện Kiều, mà cả Cung oán ngâm khúc, Trê Cóc, Lục súc tranh công ….

Bạn thân của Vũ thư Hiên, chỉ vì sự khai báo QUÁ thành khẩn của "cụ" Hoàng minh Chính của Chu tất Tiến, mà bị dzô tù, coi như là "thành viên" nhóm xét lại (?), là người được nhà văn Tưởng năng Tiến, nghe cò mồi Vũ thư Hiên rù rì thê thảm quá, nên đã chia một phần tiền ăn trợ cấp xã hội, gửi Hiên giúp hộ. Cái anh nửa khùng nửa điên đó chỉ có tội say mê văn học cổ điển Nga, đến mức thuộc lòng cả một cuốn tiểu thuyết của Dotoiepxki kia đấy. Văn xuôi đấy nhé chứ không phải thơ mà dễ học!!!

Bà Băng, vợ nhạc sĩ Văn Cao thuộc lòng TOÀN BỘ LỜI NHẠC VÀ THƠ của chồng!

Ông Vũ hoàng Địch (vẫn còn sống đấy) thuộc lòng tất cả các sáng tác của cố thi sĩ Vũ hoàng Chương, với cả ngày và nơi đã in ấn những tác phẩm đó!!!

Kể tạm vài thí dụ để quý bạn đọc thấy trình độ rất hạn hẹp của cặp song mã trên cỗ xe Vàng Vện mà Lừa sĩ Nguyễn chí Thiện, Bùi Tín, Nguyễn chính Két … đang ngồi chồm hổm!

Nếu Phan nhật Nam và Chu tất Tiến muốn phản biện về những gì Nam Nhân tôi nêu ra, thì nên tỏ ra có chút hiểu biết về lề luật phản biện, chứ đừng dùng những bài học được việt-gian-cộng sản “CẢI TẠO”, từ Người biến thành Ngợm, thì Nam Nhân không dư thời giờ mà đối đáp.

Anh-quốc, ngày 28 tháng 9 năm 2008

Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)


Nhà văn Phan Nhật Nam viết bậy rồi!


Cách đây độ hơn một tuần lễ, trên các diễn đàn có một bài viết của ông Phan nhật Nam, được giới thiệu là “thơ” với tên bài là:
“Tổ Quốc Chúng Tôi Không là “chế độ các anh””

Ngay từ cái tên của bài được giới thiệu là “thơ” này, đã làm tôi ngạc nhiên về khả năng dùng chữ của một “nhà văn”, lại còn là “nhà thơ” nữa !!! Không hiểu ông Phan nhật Nam hiểu các khái niệm “Tổ Quốc”“Chế Độ” (tức chế độ chính trị) ra làm sao mà lại có cách dùng giống Nguyễn gia Kiểng thế. Định lập dị chăng?

Nêu việc trên để thấy rõ hơn về trình độ “chơi chữ” của ông nhà văn họ Phan. Cái cần nói là trong bài gọi là “thơ”nói trên, Phan nhật Nam đã nhập nhằng QUẢNG CÁO cho cái gọi là LẬP TRƯỜNG HÒA GIẢI HÒA HỢP khi hạ bút:


“Giữa vùng nước phương Nam nầy chiến hạm
Hải Quân 10 Nhật Tảo,
Hòa máu Ngụy văn Thà đổ xuống đậm sắc biển xanh.(1)
Có còn không Bộ Đội vây trận Điện Biên? (2)
Quân lực Cộng Hòa đã thật gẫy tan nòng pháo!
…………………………………………………………..

Sử Việt không viết nên từ “Cách Mạng Mùa Thu,Tuyên Ngôn Tháng Chín”,(3)

nhưng bởi giòng máu lệ kiên cường chung phần độc dược
Phan thanh Giản uống cạn nghĩa tận trung báo quốc

Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng Cúm, Him lam
(4)
Nguyên phẩm tính Lính Cộng Hòa gục ngã Cổ Thành Đinh Công Tráng.(5)
Đễ Hồn Nước ngời ngời hơi thở lộng mỗi khắc giây
Để Tự Do hiến trọn ý nghĩa cao thượng cho Người
Và Độc Lập khởi dậy tầng tầng kiêu hãnh
Việt Nam
Tên gọi đến..

Rưng rưng nước mắt cảm xúc."
( Hết trích )

Ông Phan nhật Nam muốn hòa chung máu của riêng ông với máu của lũ ngụy binh Việt gian cộng sản chết ở Điện Biên phủ, vì âm mưu bành trướng của đế quốc đỏ Nga-xô và Tàu cộng, là việc lựa chọn của ông. Thuở đó, tướng Phạm văn Phú cùng đồng đội, thuộc lực lượng vũ trang của Chính phủ Bảo Đại, cũng có nhiều người hy sinh để chống sự bành trướng đỏ đấy. Và, cái lực lượng đó chính là tiền thân của Quân lực VNCH, mà ông từng lấy làm vinh dự đeo lon đại úy. Chẳng lẽ thực sự ông ĐÃ bị cải tạo qua những năm tháng ở nhà tù của Việt gian cộng sản, đến nỗi lú lẫn Không biết rằng: Kể từ 1947, nhiều người trong Chính phù Liên Hiệp Kháng chiến Đã nhìn ra phần nào dã tâm bán nước của tập đoàn Hồ chí Minh, nên đã tụ hội lại Quanh Quốc trưởng Bảo Đại, để chống lại sự xâm lược đỏ Nga-xô, Tàu cộng bằng ngụy quân Việt gian cộng sản. Cái lực lượng chính trị và vũ trang ấy chính là tiền thân của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa sau này cũng như của Quân lực VNCH vậy.

Ngay sau 1949, khi Tàu cộng làm chủ lục địa Tàu thì tên Đại Việt gian Hồ chí Minh đã bò sang Tàu triều kiến , xin chỉ thị của hai mẫu quốc Nga-Tàu. Và việc làm đầu tiên của Hồ khi về nước là bằng mọi cách, bằng mọi giá cướp quyền lãnh đạo và sử dụng lực lượng vũ trang. Và thế là sau cái gọi là “Rèn cán, chỉnh quân” và “đấu tố chính trị” cũng như tiếp tục mở cửa thu nhận ồ ạt người, chủ yếu trong lực lượng vũ trang, vào đảng Việt gian CS và đoàn thanh niên cứu quốc (một tổ chức cho lớp trẻ chuẩn bị bổ xung cho lực lượng của dảng Việt gian Hồ chí Minh). Sau đó, thằng Hồ chí Minh cho đổi danh xưng từ Quân đội Quốc gia của Chính phủ Liên Hiệp thành cái gọi là “quân đội nhân dân “hay tên khác là “bộ đội “cụ Hồ””. Và cái tôn chỉ lúc còn là Quân Đội Quốc Gia là “Trung với Nước, Hiếu với Dân “ bị đổi thành: “trung với đảng (tức đảng Việt gian cộng sản), hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hòan thành, khó khăn nào cũng vượt qua , kẻ thù nào cũng đánh thắng “.

Trận Điện Biên phủ xảy ra như thế nào, ai chỉ huy, ai viện trợ cả vũ khí, cả binh lính, quân nhu thì đến nay đã rõ ràng do chính cả Tàu cộng, Nga-xô và người ở các nước khác viết ra rất rõ và rất nhiều cũng như rất chi tiết. Cho nên làm gì có “Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng cúm, Him lam (4)” Đó là lũ ngụy quân Việt gian cộng sản. Phan nhật Nam đừng gỉa khùng mà nhai lại nhưng bài học trong trại cải tạo của VGCS nhé !!!

Tôi là một sỹ quan của Quân lực VNCH. Tôi không cho phép ông Phan nhật Nam đem máu của những quân nhân VNCH để hòa chung với máu của mọi loại Việt gian, đặc biệt là máu của lũ Việt gian cộng sản.

Từ khi Phan nhật Nam ra hải ngoại thì đã có nhiều tin đồn không hay lắm về Phan nhật Nam. Nhưng thời gian gần đây, Phan nhật Nam đã có những việc làm không giúp gì cho cuộc đấu tranh của người VN trong và ngoài nước nhằm loại bỏ sự thống trị của Tập đoàn VGCS. Thí dụ, qua hệ truyền hình SBTN, đã thổi ống đu đủ, tô son trát phấn cho những tên kiểu như Du tử Lê.

Mọi người không lươn lẹo như ông đâu, ông Phan nhật Nam. Ông đáng được liệt vào loại: Nhà văn Đà điểu.

NAM NHÂN

Chú ý: Xin quý vị đọc toàn bộ bài “thơ” ở bên dưới:

Tổ Quốc Chúng Tôi
Không là “chế độ các anh”

Gởi Kim Phượng,
Bằng Hữu Úc Châu nơi Phương Nam


    Hãy thống hận khi Đất cha ông cướp đoạt mất
    Hãy gào uất buổi Biển, Trời tổ tiên giặc chiếm, cắt
    Hãy biết xót đau,
    Hãy biết hờn căm,
    Thấm đê nhục..
    Dân Tộc cúi đầu, nín thinh, khinh miệt..

    Nơi quan ải phía Bắc xa một lần Nguyễn Phi Khanh bật khóc,
    nước mắt lắng sâu mạch đất.
    Giữa vùng nước phương Nam nầy chiến hạm Hải Quân 10 Nhật Tảo,
    hòa máu Ngụy Văn Thà đổ xuống đậm sắc biển xanh.(1)
    Có còn không Bộ Đội vây trận Điện Biên? (2)
    Quân lực Cộng Hòa đã thật gẫy tan nòng pháo!
    Xé không gian nghe âm vọng bao lần người lính giữ nước xung phong
    Tát cạn đáy bày ra vạn cốt xương
    lớp lớp dân oan di tản
    Trời Nam bàng hoàng khốc tang
    Biển Đông lềnh loang bi phẫn..

    Hoàng Sa, Trường Sa..
    Hãy trải rộng Nhất Thống Toàn Đồ..
    Hẳn thấy lớn dài mênh mông biên cương Đại Việt
    Lẽ nào bộ chính trị, ban bí thư, chủ tịch đảng, đoàn không hề hay biết?
    Sử Việt không viết nên từ “Cách Mạng Mùa Thu, Tuyên Ngôn Tháng Chín”,(3)
    nhưng bởi giòng máu lệ kiên cường chung phần độc dược
    Phan Thanh Giản uống cạn nghĩa tận trung báo quốc.
    Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng Cúm, Him Lam(4)
    Nguyên phẩm tính Lính Cộng Hòa gục ngã Cổ Thành Đinh Công Tráng.(5)
    Để Hồn Nước ngời ngời hơi thở lộng mỗi khắc giây
    Để Tự Do hiến trọn ý nghĩa cao thượng cho Người
    Và Độc Lập khởi dậy tầng tầng kiêu hãnh
    Việt Nam,
    Tên gọi đến..
    Rưng rưng nước mắt cảm xúc.

    Tất cả nay đã là vô ích!
    Với một chữ ký!
    Hợp thức hóa một lần dâng giặc cướp!
    Hoàn tất trọn một lần xong bán nước!
    Đồng thuận mưu sâu Quốc Vụ Viện Bắc Kinh
    Mậu Tuất, Năm “Một-ngàn chín-trăm năm-mươi-tám”.(6)
    Các Vua Hùng nơi đâu?
    Cuộc hành quân xẻ dọc Trường Sơn cuối cùng hóa ra thất bại
    Tự Vệ Thành nổ lựu đạn tan thân,
    gục đầu lên giao thông hào chống xe tăng Pháp,
    Chết giữ hùng khí Thăng Long.(7)
    Đảng khinh miệt gạch phăng, bôi bẩn!
    Trang lịch sử linh thiêng viết bởi máu vô vàn
    Vạn, triệu trái tim lẫm liệt Việt Nam yêu nước.
    Tất cả nay đã là vô ích!
    Không bớt lằn roi đau rạch nát tấm lưng..
    Đám sinh viên oằn người trên đất cũ cha ông
    Thảm nhục hứng đòn thù công an Hà Nội,
    nơi “Thủ Đô Phẩm Giá Con Người”!(8)
    Rùa thiêng ngượng mặt lặng sâu..
    Cương thổ ngập hàng lậu thuế
    Made in China.

    Made in China
    Đỗ Mười giữ ghế tổng bí thư thêm nhiệm kỳ
    Địa giới Nam Quan cắt phăng một phần cửa ải.
    Ba mươi năm hơn sau ngày “giải phóng Miền Nam”
    Đà Nẵng nhìn ra bóng Hồng Kỳ đỏ ngầy mặt nước.
    Chính danh, quốc sĩ mất lý nghĩa linh thiêng,
    “Tình Hữu Nghị”, món hàng tuỳ nghi miệng lưỡi,
    Trung Quốc mặc tình cung cấp.
    Mười năm hơn xẻ dọc Trường Sơn đánh Mỹ kiên cường
    Cuối đoạt thắng..
    Quê hương dầm sâu vũng bùn hôi tanh ô nhiễm
    Phanh thây Dân bằng nanh vuốt sói lang
    Xây dựng Nước với giấy, tiền giả mạo
    Ấn chứng từ Bắc Kinh.

    Nỗi đau kinh dị làm khô sôi tròng mắt,
    Ôi giá như các anh còn chút lương tri,
    Đôi phần trí nhớ..
    Ở đâu nên “độc lập/hạnh phúc/tự do”?(9)
    Họa chăng chỉ trên báo đảng
    Cơ quan trung ương, món hàng cũ xưa, hư mòn, phế thải
    Xứng đáng vất thiêu bãi lửa
    Giải hạn oan hồn vất vưỡng cõi nghiệt Việt Nam
    Để Mát-xcơ-va nên thành “thánh đô” thiện mỹ huy hoàng
    Để Bắc Kinh kết tụ “chiếc nôi hòa bình” tuyệt vời thế kỷ
    Âm u cặn máu cờ đỏ vàng sao
    Vấy bẩn màu Bồ Đề hai ngàn năm trăm hơn Đại Phật!
    Tưởng như một chuyện đời xưa..
    Người chết hiện nguyên hình/râu/tóc/răng/mắt..
    Theo dõi em thơ bới rác, lội cống, ngập sình
    Hốt phân thối theo kế hoạch ngũ niên, quy trình tuổi nhỏ
    Hoàn thiện mô hình “hạnh phúc”,
    tiến lên thời kỳ quá độ.
    “Khăn quàng đỏ” không đủ lau khô giòng lệ ứa!
    “tự do” nào?!..
    tự do, báo được phép đưa tin từ một nguồn kiểm duyệt
    tự do, giết cướp giữa ban ngày không thể tìm ra dấu vết
    tự do, phí tiêu bạc tỷ, triệu của dân
    tự do, hủy phá đền, chùa, ruộng, rừng.. không cần nhận lệnh
    tự do, phán quyết con người không quyền được sống..
    Từ chứng tích, tội danh lý lịch quá khứ ngụy quân,
    xếp nên hạng tiện dân,
    phận ngặt lưu đày trên quê cha, đất tổ!

    Ba mươi-ba năm sau lần “Đại Thắng Mùa Xuân”(10)
    Đất nước đi lên bằng hai chân giấy, gỗ
    Với khẩu hiệu ngây ngô,
    Nghị quyết hàm hồ,
    Kết tinh trọn vinh hoa, “Tư Bản Đỏ”.
    Giai cấp (cách mạng) mới
    Tổng hợp phương trình quỷ ma: “Thực dân/Vô sản”,
    Nhìn xuống “bọn Sàigòn mất tên” ứ tràn khinh miệt!
    Với trí hiểm tiếm danh, “Người Ái Quốc”
    Với hãnh tiến tự tuyên công, “Cha Già Dân Tộc” (11)
    Thây xác nằm nơi Ba Đình luôn mở mắt,
    Sống tráo trở đổi tên,
    Chết không hề che mặt.
    Hiển hiện toàn phần chước quỷ/tính ma.
    Quái thai hậu nhiên phẩm chất, khối lượng rặt ròng..
    Quốc hội biểu quyết “chín-chín-phầm trăm” hơn nhất trí,
    Ngàn đại biểu dùng chung một miếng khẩu trang!

    Mỗi buổi sớm mai..
    Mặt trời mọc nơi phương Đông vô hồi vĩnh cửu
    Cũng muôn đời ô nhục
    Loang thấm dần từ vết máu Hoàng, Trường Sa..

    Để nhớ,


    19 tháng 1, 1974-2008


    Phan Nhật Nam

(1) Chiến Hạm; Hạm Trưởng/QLVNCH tử trận Hoàng Sa, 19/1/1974
(2) Chiến trường lớn kết thúc chiến tranh (1946-54)
(3) 19/8/ và 2/9/1945
(4) Đồi chiến thuật quanh vòng chảo Điện Biên Phủ
(5) Cổ Thành Quảng Trị
(6) Công hàm Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai
(7) Trận chiến giữ Hà Nội 19/12/46
(8) Logos của Hà Nội trong thời kỳ chiến tranh (1960-1975)
(9) Quốc Hiệu của nhà nước cộng sản Việt Nam
(10) “30/4/1975”
(11)Những bí danh, danh hiệu của Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh.



Toà Khâm sứ, Hoa nở giữa thời khủng bố

Bảo Giang

Khi bao vây Tòa Giám Mục và cưỡng chiếm Tòa Khâm Sứ là tài sản thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội đã có từ trăm năm trước, nhà nước Việt cộng, một lần nữa lạ tái xác nhận sách lược hai diểm cơ bản mà cái chế độ vô đạo lý ấy, trước sau như một, kiên trì thực hiện:

* Xóa bỏ hình ảnh tốt đẹp cũ.
* Chuyển sang một trang đê tiện.

  1. Xóa bỏ hình ảnh tốt đẹp có sẵn.

Ngày 09-11-2000 cả thế giới loài người từ bàng hoàng đến phẫn nộ rồi kinh tởm cái hành động vô nhân tính của bọn khủng bố đã khống chế hai chiếc máy bay dân sự, trong đó có mấy trăm mạng sống của con người, lao vào hai toà nhà tháp cao trên vòm trời Nữu Ước, giết chết trên 3000 người đang có mặt trong hai tòa tháp ấy để thỏa mãn cho một cực ác tính khủng bồ thời đại.

Qua hành động này, chúng đã thành công trong cuộc khủng bố, thành công trong việc gây tội ác phạm đến con người và thành công vì đã giết được một số mạng người vô tội

Nhưng cũng từ hành động này, chúng đã tự đào cho mình một cái lỗ để mà sống, mà chết. Nghĩa là, từ thời điểm ấy, chúng bị chỉ đích danh, chúng bị loài người lên án và chúng bị công lý tra khảo và cũng từ ngày ấy, sự sợ hãi bám chặt lấy chính những kẻ đã gây ra tội ác. Có kinh nghiệm về mặt này, không ai bằng Việt cộng.

Bởi lẽ, vào ngày 03-02-1930 Hồ chí Minh cũng bắt đầu tập tành làm cái nghề khủng bố ấy cho cộng sản quốc tế ở trên phần đất Việt. Và cũng chính từ trong các cái hang , động không có ánh nắng mặt trời là sức sống của công lý chiếu dọi, chúng đã thi đua học tập, tìm tòi mọi phương cách , nghiên cứu mọi phương tiện để đạt được yêu cầu của tổ cộng là phải cướp được chính quyền rồi nhờ vào cái bạo quyền ấy mà tiêu diệt hoặc ít nhất là tàn sát nền luân lý nhân bản, đạo đức của giống nòi Việt nam. Bởi lẽ, nếu không tiêu diệt được nền luân lý đạo đức của dân tộc Việt, dù có cướp được chính quyền, chúng vẫn không thể giữ được cái chính quyền ấy bằng tư cách, bằng tư duy hay bằng khả năng và nhân bản. Với lý luận ấy, Hồ chí Minh đã ngày đêm gieo rắc kinh hoàng cho quốc dân Việt Nam, từ thôn quê cho đến thị thành, không có một nơi nào mà Hồ chí Minh không đến bịt mắt, bịt mặt và giết người. Giết từ đơn lẻ cho đến cuộc đại đấu tổ nở hoa vào mùa 54-57 hay là biến cố năm Mậu Thân 1958 tại Huế.

Ai cũng biết, vào ngày 2-9-1945, bọn khủng bố Việt Minh chính thức xuất đầu lộ diện tại Hà Nội. Sau cuộc ra mắt ấy là hàng triệu người dân ở bắc phải bỏ của mà chạy lấy người vào nam. Một trong những vị lãnh đạo tinh thần rất có uy tín của Việt Nam vào lúc đó là Đức Cha Lê Hữu Từ, người đã, không phải chỉ là một cá nhân tích cực hỗ trợ cho nhóm Việt Minh này, nhưng còn kêu gọi đồng bào Công Giáo móc hầu bao ra mà hỗ trợ tiền bạc, giúp cơ sở cho chúng vì tưởng nhầm chúng là người. Người có con tim và khối óc như mình. Hơn thế, còn là người qủa cảm đi đấu tranh giải phóng cho dân tộc. Kết qủa, sau khi nhìn rõ bộ mặt của Hồ chí Minh vào ngày 2-9-1945, Đức Cha Lê đã là một trong những người đầu tiên tuyên bố bất hợp tác với Vtê Minh, hơn thế, còn lập khu tự vệ, Buì Chu- Phát Diệmi để chống lại chúng. Trong lúc Đức Cha Phạm Ngọc Chi và một số Linh Mục tìm cách kéo con chiên bỏ của mà chạy lấy người vào nam. Thật là hú vía. Phần những người ở lại, vào mùa đấu tố, chúng đã đền ơn cho hàng ngàn người đã từng làm ơn, nuôi nấng chúng ở trong nhà hoặc bao che cho chúng bằng cách này hay cắch khác, bằng một đường dao mã tấu rất ngọt. Hành động dã nhân ấy là của kẻ phản phúc hay người thương dân thương nước?

Nhưng lâu nay, theo thời gian, lớp người trước đã qua đi, lớp trẻ thì thiếu sách vở ghi chép lại, thiếu hẳn những ngưòi đi trước giáo dục cho thế hệ mới biết những hành động khủng bố dã man của Việt cộng trên cõi Việt Nam, nên người ta cũng một phần ít nhắc nhở tới những tội ác của chúng. Tuy nhiên, sự kiện bị bỏ quên này đã làm tổn thương cái bản ngã ác tính của đảng cộng, nên chúng đã vùng dậy, nhắc cho mọi người phải luôn nhớ đến cái cực ác dã nhân trong đảng của chúng.. Đó chính là lý do của sự việc chúng đổ quân bao vây và chiếm đoạt toà khâm sứ vào sáng tinh mơ ngày 19-9-2008.

Trong hành động bạo ác, cưỡng chiếm và đập cho tan khu nhà Tòa Khâm Sứ cũ vào ngày 19-9-2008, Việt cộng đã đưa ra những mục tiêu sau:.

a. Bề mặt, chúng muốn xóa bỏ những cơ sở hình ảnh bên ngoài của Toà Khâm Sứ để cho người ta quên đi hình ảnh cũ, mất chỗ tựa. Nhưng thực chất là chúng muốn xoá bỏ, dẹp hẳn nét đẹp cổ kính đạo hạnh trong nền luân lý của dân Việt qua sự thể hiện tôn trọng nền luân lý nhân bản, thần linh trong tôn giáo. Bởi lẽ, bao lâu trong xã hội còn tồn tại nền luân lý nhân bản và tôn giáo, thì bấy lâu cái chế độ cộng sản vẫn còn bị coi là vô đạo lý và sự sống của nó chỉ như một cái xác đang từ từ thối rữa..

b. Dùng bạo lức để trấn áp và thách đố công lý. Là người lẽ thường ai lại không sợ chết hoăc tù tội, đặc biệt là tù Việt cộng. Vì yếu tố tâm lý này, chúng đã bác loa tuyên truyền dối trá, lật lọng để hỗ trợ cho cuộc bạo lực thật nhanh, thật gọn trước khi những ngưòi sợ chết kia biết nắm chặt lấy tay nhau để cùng đi tìm công lý cho xã hội..

c. Muốn tiêu diệt niềm tin nơi con người với con ngươi là điều mà Đức Tổng Giám Mục Hà Nội đang khơi dậy qua những giờ tập trung cầu nguyện. Chúng biết rõ một điều là, sau những giờ canh thức ấy, niềm tin sẽ tái tạo nơi lòng người, rồi từ đó sức sống sẽ bùng lên. Lòng tự hào của dân tộc được hun đúc trở lại. Một khi lòng tin nơi dân chúng vững mạnh lên, cái bạo lực của dã cộng sẽ theo định nghĩa tái quy, quay trở lại tiêu diệt chính những kẻ vô đạo lý.

d. Chối bỏ đạo lý, công bằng là nền tảng của xã hội. Áp bức tự do là quyền tối thượng của con người, đi nguợc lại chính những dòng chữ ở trong tờ giấy lộn mà cái chế độ ấy gọi là hiến pháp đưọc cạo sửa vào các năm 1946, 1959,1988, 1992.

2. Rồi chuyển sang một trang tồi tệ, đê tiện.

a. Sự kiện thực tế.

Có thể nói một cách chính xác rằng. Hồ chí Minh và cái chi bộ cộng sản tại Việt Nam đã đẩy Việt Nam vào một trang tồi tệ và đê tiện nhất trong lịch sử, không những của riêng Việt Nam mà còn là của cả thế giới nữa.

Vì tôn thờ chủ ngĩa tam vô, Hồ chí Minh và tập đoàn Việt cộng đã xô đẩy dân tộc Việt Nam vào vực thằm của một nền luân lý vô đạo, bất nhân và xa đọa. Tạo ra một xã hội tha hóa mà trong đó con người theo đảng tình không còn biết đến nhân lễ nghĩa trí tìn là gì . Chúng chỉ còn biết đối sử với đồng chí của mình cũng như với đồng loại bằng những hành vi dối trá và ngôn ngữ bịp lừa đúng như Trân quốc Thuận, một cán cộng cao cấp, là ủy viên trung ương, nguyên phó chủ tịch cái gọi là quốc hội khóa XI xác nhận “ ngày nay người ta phải nói dối nhau mà sống, Nói dối lâu ngày thành thói quen Thòi quen lâu ngày đạo đức, mà cái đạo đức ấy là đạo đức cách mạng Việt cộng”. Và một nhân vật khác cũng rất nổi danh trong dám văn nô của Việt cộng, Nguyễn Khải, là kẻ từng được giải thưởng gọi là “giải thưởng văn học Hồ chí Minh” *( rõ chán, chắc chả còn cái vô học nào hơn cái Hồ chí Minh nên đành phải đặt ra cái giài thưởng như thế để lừa bịp thiên hạ làm cho nó có vẻ có văn học. Phản văn hóa đến thế là cùng) cũng đã phải ăn năn trưóc khi về chầu diêm vương rằng; “ nguời ta nói dối moị nơi , mọi chốn, và nói dối lem lẻm... và rồi …một dân tộc làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà mặt người dân nám đen, đi đứng lom rom như một kẻ bại trận… Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống….”

Có đọc được những dòng chữ ấy, mới hiểu được cái trang từ ngày 2-9-1945 nó đê tiện như thế nào và đáng để hãnh diện hay không?

Chuyện ấy cũng đã là xa. Nay thử vạch thẳng mặt chúng ra trong vụ cướp khu đất của Tòa khâm Sứ cũ để làm “công viên cây xanh” xem cái trang lịch sử mà chúng rêu rao từ ngày 2-9-1945 đến nay nó đê tiện ra sao.

Việc chúng công bố dùng cơ sở này làm “công viên cây xanh” để phục vụ công ích cho dân chúng thành phố, bề mặt, tuy là cuộc cướp cạn nhưng chiêu bài này mở ra, dù khá trễ, nhưng cũng không kém phần văn vẻ bóng loáng như là cuộc “cải cách ruộng đất 54-57” là mấy. Bởi vì cả hai chủ dất đều mất trắng tài sản của mình. Tuy thế, sự mất mát lại mang ý nghĩa khác nhau:

Chủ đất trong cải cách ruộng đất bị chúng cướp của và bị đấu tố là Trí Phú Địa Hào là những cá nhân và đó là bản án. Họ có thể đã bị chết oan và sau cái chết oan khiên ấy, tài sản ấy thuộc về nhà nước quản lý theo định nghĩa của pháp luật Việt cộng, dù rằng bây giờ sổ đỏ trên những khu đất ây lại mang tên các đảng viên Việt cộng. Con cái chủ sở coi như phải chấp nhận bản án, không thể đòi lại, dù đất ấy có thuộc về nhân dân và có phục vụ nhân dân hay là không. Riêng về phía nhà nước, không còn mưu đồ gì sau cuộc cướp đoạt, chìa chác ấy.

Chủ sở trong sự kiện Toà Khâm Sứ thì hoàn toàn khác. Khác vì trong tất cả các tờ giấy lộn mà Việt cộng gọi là hiến pháp của chúng đều có những điều khoàn như: điều 12/1946 điều 18,18,20/1959 điều 28/1980 và điều 23/1992 đều công nhận quyền sở hữu tài sản của công dân. Hơn thế, khu đất của Toàn Khâm Sứ không bị quy kết vào tội Trí Phú Địa Hào, không bị đấu tố trong hội múa dao 54-57. Cũng không bị trưng dụng, không có giấy trưng thu từ mấy chục năm nay. Bỗng dưng, Toà Giám Mục cũ giống như cái “gân gà” nuốt không được thì đành phải nhả. Nhưng khi nhả ra mà trả lại quyền sở hữu thì hệ giây chuyền lan ra trên cả nước sẽ kéo xụp cái tòa nhà ăn cướp của chúng, nên chỉ một đêm, cướp biến thành quy hoạch “công viên cây xanh” phục vụ công ích. Phen này thì Tòa Giám Mục cứ gọi là ngậm trái đắng vì không thể đòi lại được nữa. Lý do dùng đất để phục vụ nhân dân!

Nhưng “công viên cây xanh” ấy và “công viên cây xanh: ở Thái Hà nữa, có phục vụ cho cái bề mặt mà cái chế độ này rêu rao, hay là phục vụ cho một cái mưu đồ thâm độc, tồi tệ nào khác nữa?

Xin hãy hỏi thẳng Nguyễn Minh Triết thì sẽ tìm ra câu trả lời. Lý do, khi sang Mỹ ăn xin, Triết đã từng chào mời khách hàng là : “ vào đi các ông, ở Việt Nam có nhiều gái đẹp”. Và cái “gái đẹp” ấy, chỉ nay mai là xuất hiện đầy trên phần đất ”công viên cây xanh:” thuộc Tòa Khâm Sứ cũ.

Tại sao lại có chuyện này? Dễ hiểu thôi, Nơi ấy thì thanh vắng, đường xá có khi lại ít đèn, là địa danh rất dễ nhớ, đôi khi lại thơ mộng nữa nên sẽ trở thành nơi đứng đón khách về đêm của những “gái đẹp” mà Nguyễn Minh Triết chào mời. Chuyện “bướm đêm” xuất hiện ở đây là lẽ thường, bởi vì có công viên nào ở Hà Nội mà không la liệt gái ăn xương chờ đón khách, nên “công viên cây xanh” trên Khu đất Tòa Khâm Sứ làm gì có ngoại lệ, Chuyện nghe qua tưởng chừng đơn giản, nhưng thật sự là không đơn giản trong cái chủ đich của nhà nước Việt cộng.

Với chủ thuyết vô thần, chúng không ngần ngại biến Toà Khâm Sứ cũ là nơi, qua hình ảnh khang trang bên ngoài là một cơ sở trang nghiêm , thuần hạnh , đạo đức và dẫn đầu về luân lý đạo đức xã hội thành nơi “tụ họp“ của gái điếm về đêm với mục đích xỉ nhục tập thể Tôn Giáo. Dĩ nhên, sự kiện bị “ xỉ nhục” này sẽ đến rất nhanh, vì ai cũng biết, nếu cái chế độ này còn tồn tại thì hai cái “khuôn viên cây xanh” ấy sẽ có đầy gái ăn xương đến đón khách và không bị ai ngăn cản, nếu như không muốn nói là có nhà nước này khuyến khích nữa là khác.

Nếu Toà Giám Mục và nhân dân phản ảnh, nhà nưóc lại phải ra tay, làm tuyên truyền bằng những bản tin mang đầy tính chất xỉ nhục tôn giáo như: “Đêm … công an phối hợp mở chiến dịch Hồ chí Minh để vây bắt những cô gái điếm hành nghề bất hợp pháp ở khu vực “công viên cây xanh” nằm trong khuôn viên Toà Khâm Sứ gần Toà Giám Mục Hà Nội …v.v.”

Ôi, nơi tôn nghiêm ngày xưa nay thành cửa chợ trò hề do cái nhà nước đổ đốn này đạo diễn. Mất đất mà niềm đau chưa dừng lại ở đây.! Ôi thời của một đoạn sử đê tiện!

B. Làm xỉ nhục cho dân Tộc Việt Nam.

Có thể nói một cách rất công minh rằng, ngày nay không một người Việt Nam nào mà không cảm thấy nhục nhã và thấy bị xúc phạm vì cái chế độ Việt cộng đương quyền này. Nói cách khác, thật là cay đắng, tủi hổ cho ngươi Việt Nam khi phải cầm cái tờ hộ chiếu, thẻ căn cước giấy khai sinh mang quốc tịch Việt Nam do Việt cộng cấp phát!

Tại sao người Việt Nam thấy nhục nhã và bị xỉ nhục về chuyện này?

Đừng nhìn đâu xa, hãy nhìn những chuyến đi xin ăn cũa những tên Kiệt Khải Triết Dũng ra ngoại quốc thì biết là ngươi ngoại quốc họ khinh bỉ cái giới cấp Việt cộng như thê nào. (Dĩ nhiên người ngoài họ không thể phân biệt được Việt cộng với Việt Nam, họ chỉ biết gọi chung một từ Việt Nam thôi). Chúng đi đến đâu thì cũng trốn chui trốn nhủi trước hàng ngàn, hàng vạn ngưòi cầm cờ công lý xua đuổi,. Rồi ngay chính nguyên thủ nơi chúng đến cũng lặng lẽ cho chúng đi vào bằng cửa hậu mà gặp gỡ. Có lịch sử đi xứ nào của các nươc văn minh trên thế giới mà bị nguyên thủ các nưóc khác đồi xử như thế không?

Hãy nhìn tấm hình chúng bịt miệng Linh mục Lý ở trước công đường, một tấm hình kinh tởm kim cổ không có, nhưng chúng làm được thì sẽ hiểu được cái lý do tại sao thế giới loài ngưòi khinh bỉ Việt cộng và Việt Nam bị ảnh hưởng lây.

Nên điều người ta xôn xao bàn tán mấy ngày qua và mọi người đều đồng ý là: người Việt Nam nào cũng rất hãnh diện là người Việt Nam nhưng lại tủi hổ vì cái bọn cầm quyền Việt cộng này. Đó là lý lẽ của một người Đạo Lý và một kẻ khủng bố.

Hỡi các bạn trẻ Việt Nam, Việt cộng đã mở ra một trang sử tồi tệ và đê tiện trên đất Việt chúng ta. Phần các bạn, Tư duy và nhận thức của các bạn từ vụ cưỡng đoạt, không phải chỉ là mảnh dất của Toà Khâm Sứ cũ mà là Tụ Do. Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý của người Việt Nam sẽ dẫn các bạn lên đường chính nghĩa để diệt trừ vô đạo:

Em ơi tổ quốc nhờ em đó,
Mau lớn khôn lên giữ cõi bờ.

Bảo Giang

Hãnh Diện Hay Hổ Thẹn Vì Quốc Tịch Của Mình?


Lê Đạo

Kính dâng Đức Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà nội

Sau ngày 30.4.1975, bác sĩ Phạm thị Xuân Quế, một cơ sở việt cọng nội thành ở Huế đã phát biểu: "Tôi hãnh diện vì là người Việt Nam bởi Việt Nam đã đánh thắng được đế quốc Mỹ." Không biết đến nay bác sĩ Quế có còn nhớ câu nói ấy của mình không; một khi đã là miếng chanh bị vắt kiệt nước. Và sau 33 năm qua, bà ta đã nhìn thấy gì một khi Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng đại diện cho nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sang Mỹ "ăn xin" mà xe lại không dám treo cờ của đất nước mình!

Tôi thì hoàn toàn không như bác sĩ Quế, bởi tôi không mê muội để không thấy rõ bản chất và bộ mặt của cọng sản. Tôi không những đã không bị nhồi sọ cái chủ nghĩa lạc hậu ấy, mà lại còn được trải nghiệm qua biến cố Tết Mậu Thân mà lúc đó tôi chỉ mới học lớp 10 và là nạn nhân hụt trong cuộc thảm sát kinh hoàng ấy.

Thế rồi, sau đó 7 năm, ngày Miền Nam bị cưỡng chiếm, tôi đã phải trải qua các lớp học chính trị. Trong đó cán bộ lớp, lớp trưởng – tổ trưởng, đã chủ trì các buổi thảo luận. Tôi phải bấm bụng để nói lên những "nét ưu việt" của chủ nghĩa xã hội mà tôi biết là không hề có.

Sau nầy, tôi gặp lại các ông cán bộ lớp của tôi ngày xưa, mà bây giờ họ là giảng viên đại học, là nhà giáo ưu tú. Hẳn nhiên họ là đảng viên kỳ cựu rồi! Tôi gặp lại họ và cho dù mình không là tổ trưởng chủ trì thảo luận nhưng tôi có thể buộc họ phải trả lời những gì họ đã buộc tôi phát biểu về cái gọi là "ưu việt" của chủ nghĩa xã hội. Trước 1975, họ cũng là những sinh viên như tôi, đã trải nghiệm xã hội dân chủ đa nguyên của Việt Nam Cọng Hòa. Bây giờ, sau 33 năm, họ cũng đã thấm thía bởi bằng chứng cụ thể đã đầy dẫy không kể hết được, về mọi mặt, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa xã hội,…Họ đã không thể đưa ra được một "nét" nào gọi là "ưu việt" của xã hội cọng sản nầy. Mà trái lại họ lại xin tôi: thôi đừng tra tấn họ nữa!

Tôi hoàn toàn đồng cảm với Đức Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội khi bước chân ra nước ngoài và cảm thấy hổ thẹn khi mang quốc tịch Việt Nam trong hộ chiếu. Lý do thật dễ hiểu với cái mặc cảm của con dân của một đất nước mà trước 1975, ai cũng có quyền ngẩng cao đầu khi ra nước ngoài. Việt Nam Cọng Hòa thời đó cho dù đang bị cọng sản Miền Bắc đánh phá, mà văn hóa xã hội vẫn phát triển và được thế giới công nhận. Chẳng hạn sinh viên đi du học vẫn được nhận thẳng vào tất cả các trường đại học trên thế giới. Còn bây giờ, văn bằng không được nước nào công nhận, ngay cả các nước trong khu vực.

Nhìn chung về hiện tình đất nước thì tôi "không thể nào hãnh diện", có nghĩa là "hổ thẹn", về đất nước tôi đang sống, khi mà:

- Đất nước độc tài đảng trị không hề có tự do dân chủ, nhân quyền. Các quyền căn bản của con người đều bị chà đạp.

- Đất nước không hề có luật pháp, mà chỉ là luật rừng.

- Đất nước được lãnh đạo bởi một đám ngu dốt mê muội, chẳng qua một trường lớp nào, chẳng hạn như cụ Đỗ Mười hoạn lợn, Lê Khả Phiêu, Nguyến tấn Dũng,….

- Đất nước không hề có chủ quyền và gần như là chư hầu của Đại Hán. Lãnh thổ thì lại đem dâng cho quan thầy.

- Đất nước mà truyền thông báo chí chỉ biết nói theo mệnh lệnh của đảng kể cả nói láo, tuyên truyền sai sự thật.

- Đất nước mà công an cảnh sát quân đội đi bảo vệ đảng và trấn áp nhân dân của mình khi họ thể hiện lòng yêu nước của mình, bảo vệ tài sản của giáo hội mình,…

- Đất nước mà cảnh sát công an đi đánh phóng viên nước ngoài đến độ gây thương tích.

- Đất nước mà phụ nữ được bán làm nô lệ tình dục, công nhân được xuất khẩu để làm nô lệ, như đã xảy ra ở Mã Lai và Jordanie.

- Đất nước chậm tiến, lạc hậu về mọi mặt, từ khoa học kỹ thuật đến y tế, giáo dục. Liên tục ở hạng chót trong các bảng xếp hạng.

- Đất nước tràn ngập những tệ nạn xã hội bên cạnh nạn tham ô tham nhũng của giới lãnh đạo.

- Đất nước mà xướng ngôn viên đài truyền hình quốc gia khi ra nước ngoài lại đi ăn cắp đồ ở siêu thị bị bắt quả tang.

………………………………………………

Làm sao một đứa con trong gia đình có thể hãnh diện khi mà bố mẹ đã làm cho con cái phải hổ thẹn với mọi người vì lối sống của mình, đưa gia đình đến tình trạng bi đát trong nợ nần, tệ nạn nầy tệ nạn kia, …..

Ngài chủ tịch nước Nguyễn minh Triết khi mang sứ mệnh đi quan hệ ngoại giao với Mỹ đã không dương cờ, lại còn đi ngõ sau, có làm cho nhân dân trong nước hổ thẹn không? Nguyễn minh Triết có phải đã chối bỏ "quốc tịch" của mình khi không dương cờ?....

Nếu Đức Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội nói rằng Ngài "rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam . Đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên.... và mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng", thì tôi cũng đã hổ thẹn như Ngài. Không những thế tôi đã phải khóc vì tủi và nhục khi nhìn người và ngẫm nghĩ đến ta. Chính vì thế mà đã có một số người Việt Nam khi ra nước ngoài khi được hỏi "Where are you from?" thì đã phải trả lời "I am Japanese." Chúng ta không thể nào trách những người đó được bởi chính quyền cọng sản đã đưa đất nước đi vào nghèo nàn, lạc hậu, đem lại những điều ô nhục cho đất nước.

Muốn hãnh diện về đất nước mình, quốc tịch mình không còn cách nào khác là thay thế bộ máy lãnh đạo cọng sản nầy bằng một tập thể lãnh đạo tinh hoa của đất nước được nhân dân tự do lựa chọn để có thể đưa đất nước đi lên hầu mọi người có thể ngẩng cao đầu với bạn bè năm châu.

Tôi tự hào khi đất nước tôi có một Quang Trung Nguyễn Huệ, một Lê Lợi, một Trần Hưng Đạo,…Tôi hổ thẹn khi đất nước tôi có một Hồ chí Minh, một Nông đức Mạnh,…

Tôi hổ thẹn khi đất nước tôi đang đeo đuổi một chủ nghĩa ngoại lai, một đảng cọng sản đang tàn phá quê hương đất nước.

Và tôi hổ thẹn khi đất nước tôi đang được một đảng lãnh đạo chính là một ĐẢNG ĂN CƯỚP!

Lê Đạo


ĐỐI DIỆN - Đối Đầu - ĐỐI KHÁNG


LM Đinh Xuân Long

Vụ tranh chấp gần đây của Giáo Xứ Thái Hà tại Hà Nội thật sự lôi cuốn sự chú ý và hiệp thông của nhiều người và nhiều đoàn thể. Nhận thấy đây là thời điểm để có thể có những đột biến hầu có thể giải quyết những xáo trộn và bế tắc hiện nay tại VN. Lối giải quyết những khủng hoảng mà chúng ta đang nhắm tới là những giải quyết tận gốc mang tính cách trường tồn, không nhất thời. Muốn giải quyết dứt điểm những vấn nạn đó chúng ta cần phải tìm hiểu nguyên nhân tất yếu của những xáo trộn và xung khắc này. Xin được mạo muội đóng góp một phần vào những ưu tư khắc khoải của nhiều người hầu giải thoát những bế tắc hiện nay.

Có nhiều nguyên nhân đưa đến những xáo trộn hiện nay như nhiều bài viết đã phân tích, tất cả đều đổ lỗi cho phía chính quyền cs Hà nội là thủ phạm như: tham nhũng, gianh đất và bán đất không theo một nguyên tắc luật pháp nào cả, đặt cương vị độc tôn của đảng trên hết bất chấp những sai lầm tày trời của đảng, nếu nhân nhượng với Thái Hà, hàng triệu Thái Hà khác sẽ mọc lên để đòi công lý. Người viết rất đồng ý với những cao kiến đó. Ở đây, theo thiển ý của người viết, chúng ta cần nhìn đến một nguyên nhân khác, nguyên nhân này có thể là nguyên nhân chính yếu, đó là BẢN CHẤT ĐỐI KHÁNG của đảng csVN.

Trước khi nói đến bản chất đối kháng, chúng ta đề cập sơ qua về đối thoại. Những diễn biến trong những tuần qua tại Thái Hà cho chúng ta thấy rằng chính quyền cs không bao giờ chấp nhận đối thoại trên nguyên tắc tôn trọng và lắng nghe ý kiến phía đối lập bởi vì bản chất cs là dối trá, xảo quyệt và lọc lừa nên rất sợ sự thật. Đối thoại trên nguyên tắc tôn trọng và lắng nghe sẽ dẫn đến sự thật vì thế cs không bao giờ muốn thực hiện điều đó. Vì thế không bao giờ và không thể nào đặt vấn đề đối thoại một cách đúng đắn với người cs được.

1. Đối Kháng

Vụ xung đột tại Thái Hà có phải là "một biểu tượng của một thói đời mang tính đối kháng" như trong lá thư của HY Phạm Minh Mẫn gởi cho các Giám mục đi dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới vừa rồi tại Úc không?

a) Nếu hiểu "đối kháng" như thù nghịch, chống đối, dùng vũ lực để chống lại một cơ chế thì xin thưa là không. Biến cố Thái Hà chỉ là một sự phản đối đúng đắn sự sai trái và bất công của chính quyền và đòi hỏi công lý. Đây là một trong những quyền căn bản của con người. Nhân dân của một xã hội cần phải đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng của xã hội đó. Nếu chính quyền làm sai, nhân dân có quyền lên tiếng sửa sai để hoàn thiện hóa xã hội. Vụ Thái Hà không phải là một thói đời, mà là một phản ứng phát xuất từ ý thức và lương tâm trong sáng tố cáo sự dữ như Chúa Giêsu đã mắng chửi bọn Pharisiêu là nòi rắn độc, giả hình trong Phúc Âm.

b) Nếu hiểu "đối kháng" theo nghĩa trên, thù nghịch, đối đầu, dùng vũ lực để áp đảo thì đảng csVN chính là thủ phạm. Đây không phải là một thói đời mà là một bản chất của đảng. Thói đời chỉ là một hiện tượng, có thể dễ dàng thay đổi trong khi bản chất lại là căn nguyên mang tính cách trường tồn khó lòng thay đổi một sớm một chiều được.

Tại sao đảng csVN lại luôn luôn mang bản chất thù nghịch, đối lập với nhân dân? Tại sao đảng csVN luôn luôn hô hào là đảng của nhân dân và luôn đứng về phía nhân dân, nhưng thực tế cho thấy rằng đảng luôn luôn coi nhân dân là kẻ thù?

Câu trả lời là bởi vì chính chủ thuyết cs giai cấp xung đột. Theo biện chứng pháp của mác-xít, ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Ở đâu có đàn áp bởi giai cấp thống trị ở đó giai cấp bị đàn áp sẽ hình thành một giai cấp đấu tranh. Xung đột giữa hai giai cấp thống trị và bị trị sẽ là điều tất nhiên và theo tiến trình lớn mạnh cho đến khi loại bỏ giai cấp thống trị.

Trên thực tế, chủ thuyết cs với lý tưởng bình đẳng giai cấp không bao giờ thực hiện được bởi vì sau khi giai cấp thống trị (tư bản, phong kiến) bị loại bỏ bởi giai cấp bị trị (công nông) dưới sự lãnh đạo của đảng cs, một giai cấp mới sẽ hình thành, đó là giai cấp thống trị cs trá hình. Đảng cs miẽn nhiên trở thành giai cấp thống trị đầy uy quyền sinh sát, là những tư bản đỏ giàu xụ chính hiệu trong khi nhân dân, thay vì được giải thoát, lại trở thành giai cấp bị trị. Nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh.

Đảng cs luôn ý thức về sự xung đột giai cấp này (vì họ chính là người thừa hành chủ thuyết cs không tưởng), cho nên họ phải tìm cách ngăn ngừa và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu chống lại đảng là giai cấp thống trị. Điều này giải thích tại sao đảng cs luôn đối đầu với nhân dân, luôn coi nhân dân là kẻ thù.

Lịch sử các nước cs thế giới đã chứng minh điều đó. Tại sao lê-nin, Sta-lin của Liên Xô, Mao trạch đông của Tàu, Hồ chí minh của VN, Pôn-pốt của Campuchia đã tàn sát hàng triệu thường dân, trong đó đa số thuộc giai cấp công nông vô tội? Bởi vì người cs sợ giai cấp xung đột, sợ giai cấp bị trị (công nông) sẽ vùng dậy chống lại giai cấp thống trị là đảng cs.

Bạo chúa Hit-le của Đức quốc xã đã tàn sát hàng triệu nhân mạng nhưng chưa hề tàn sát người Đức nhân dân mình. Chỉ có bạo chúa Tần thủy hoàng của Tàu thời xưa, và các bạo chúa cs thời nay như Lê-nin, Mao trạch đông, Hồ chí minh mới cam tâm giết hại nhân dân của mình để bảo vệ ngôi vị độc tôn của đảng.

Nhìn lại lịch sử VN dưới chế độ cs chúng ta không khỏi ngậm ngùi cho thân phận con dân Việt. Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc với những cuộc đấu tố dã man, vô nhân tính đã sát hại không biết bao nhiêu nông dân vô tội. Vụ án nhân văn giai phẩm, chôn sống và thảm sát thường dân vô tội vào dịp Tết Mậu Thân, chính sách bần cùng hoá nhân dân, hệ thống kiểm soát nhân dân từ hộ khẩu, lương thực cho đến tôn giáo, tinh thần và tư tưởng cho thấy rằng cs luôn coi nhân dân là kẻ thù, bằng mọi giá cs phải biến nhân dân thành giai cấp bần cùng, sợ sệt và yếu hèn để dễ bị trị.

Bản chất đối kháng của đảng cs trong biến cố Thái hà lại là một bằng chứng hiển nhiên. Thay vì tìm cách để đối thoại và giải quyết ổn thỏa giữa hai bên, csVN bằng mọi giá phải đập tan mọi phản đối, mọi yêu cầu cho dù chính đáng từ phía nhân dân.

Những hành động lỗ mãng của chính quyền cs như phá Tòa Khâm Sứ, đập phá Linh Địa Đức Bà tại Thái Hà, dùng bọn du côn hù dọa và hành hung tu sĩ lẫn giáo dân cho thấy rằng con người cs, với bản chất đối kháng ăn sâu vào cân não, không bao giờ chấp nhận sự thật, không bao giờ nhận lỗi, không phải vì quá ngu xuẩn, nhưng vì cố chấp trong u mê bởi vì chỉ có đảng là ưu việt trong khi mọi thành phần khác chỉ là rong rêu.

2. Đối Diện

Đã đến lúc người VN cần phải can đảm đối diện với những bạo động và thách thức từ phía đảng cs, bởi vì sự thật là đảng cs luôn mang bản chất đối kháng chống lại nhân dân. Đảng cs không bao giờ đứng về phía nhân dân. Đảng cs chỉ luôn tìm cách bảo vệ đảng thay vì bảo vệ quyền lợi căn bản của nhân dân.

Đã đến lúc cần phải tâm niệm rằng con người sinh ra có nhân phẩm, tự do và ý chí cầu tiến, không thể bị lệ thuộc vào một guồng máy mù quáng, độc tôn hằng chà đạp lên phẩm giá và quyền làm người của nhân dân.

Đã đến lúc cần phải chân nhận rằng con người luôn hướng thượng, luôn ý thức về những quyền lợi của cá nhân, tập thể và đất nước. Vì thế không thể vì quyền lợi của một nhóm nhỏ là đảng csVN mà quên xã tắc, tiền đồ của cả một dân tộc.

Đã đến lúc cần phải đương đầu với những xáo trộn xã hội do bất công và độc tài gây ra để đứng dậy như những công dân đầy trách nhiệm tìm cách giải quyết tình thế trong tinh thần liên đới và xây dựng thực sự.

Đã đến lúc cần một cuộc cách mạng. Một cuộc cách mạng thực sự cho quê hương. Máu đã đổ nhiều trên quê hương VN bởi vì tham vọng của một nhóm người theo một chủ nghĩa cs ngoại lai. Chúng ta không cần một cuộc cách mạng bạo động để thay đổi tình thế. Chúng ta cần một cuộc cách mạng đúng nghĩa cho con người, một cuộc cách mạng bất bạo động, trong ôn hòa nhưng đầy sức mạnh của toàn dần hầu có thể thay đổi cơ chế xã hội hiện hành và giải thoát con người khỏi những bất công và phi lý hiện tại:

Một cuộc cách mạng niềm tin để thắng bạo lực.
Một cuộc cách mạng đạo đức để thắng gian tà.
Một cuộc cách mạng nhân tâm để chiến thắng sự sợ hãi.
Một cuộc cách mạng thành tín để chiến thắng gian dối và xảo quyệt.

Đây cũng là một cuộc cách mạng ý thức hệ, không phải là ý thức hệ về một chủ thuyết hay một chủ nghĩa nào, mà là ý thức hệ về thân phận con người VN, dân tộc VN và tương lai VN. Đã đến lúc cần phải đề xướng một cuộc cách mạng ý thức hệ để thay đổi tâm thức hiện tại. Dân tộc VN là một dân tộc tự do, hào hùng và luôn có niềm tin. Phát xuất từ bản tính tự do và bình đẳng, không một chủ nghĩa nào có thể nô lệ hóa dân tộc VN. Nhân dân VN có niềm tự hào của một dân tộc quật cường, không một chế độ nào có thể bẻ gãy ý chí quật cường đó.

Một cuộc cách mạng ý thức hệ đúng nghĩa sẽ đặt lại vấn đề căn tính Việt của mỗi chúng ta. Căn tính Việt không bao giờ đồng hóa với chủ thuyết cs như người cs từng chủ trương. Đã đến lúc phải ném chủ thuyết cs vào thùng rác lịch sử để nhân dân có thể làm chủ vận mệnh đất nước. Hãy nhìn đến tình hình tăm tối tại VN hiện tại, hãy nhìn đến tương lai của con cháu chúng ta để thấy rằng chúng ta cần phải làm một điều gì cụ thể và ích lợi thực sự cho đất nước. Hãy làm một cuộc cách mạng để giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi, để cứu vãn tình thế tăm tối hiện nay và đưa đất nước ra khỏi bờ vực sâu của băng hoại và phá sản.

LM Đinh Xuân Long


QUÂN BÁN NƯỚC MỚI CẢM THẤY TỰ HÀO. CÒN NGƯỜI YÊU NƯỚC NGHẸN NGÀO, NHỤC NHÃ.

Trần Gia Tự

Bài này viết để trả lời cho các công cụ của Đảng Việt Gian Cộng Sản như: báo Hà nội mới, báo Nhân dân, Đài Truyền hình trung ương VTV1, .v.v. hiện đang "bức xúc, khẩn trương" bôi nhọ, đả kích, xuyên tạc bài phát biểu của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã? Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Bác Hồ Dĩ Đại cam chịu làm tay sai cho Sit-ta-lin và Bác Mao (chữ thi nô Tố Hữu)! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã? Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Bác Hồ Dĩ Đại bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã? Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Bác Hồ Dĩ Đại đứng hầu thằng Tướng Tàu Lã Quý Ba trong khi nó ngồi gác chân lên bàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Bác Hồ Dĩ Đại qua xin thằng Bác Mao Dĩ Đại chỉ thị về Cải Cách Ruộng Đất để giết hại gần cả trăm ngàn dân lành! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Đồng ký công hàm bán nước thừa lệnh của thằng Bác Hồ Dĩ Đại! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Bác Hồ Dĩ Đại ra lệnh xâm lăng miền Nam "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào" và đưa miền Bắc vào vòng nô lệ của Chủ Nghĩa Cộng Sản! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Bác Hồ Dĩ Đại ra lệnh tàn sát tập thể dân chúng trong trận Mậu Thân 1968 "Tiến lên, toàn thắng ắt về ta"! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng học trò xuất sắc của thằng Bác Hồ Dĩ Đại là thằng Lê Duẫn đã trả thù tàn độc bằng cách giết lần mòn hàng trăm ngàn quân dân cán chính miền Nam và đưa đất nước trở về thời đồ đá chỉ mười năm sau ngày bọn nó chiếm được miền Nam mà lại còn vênh mặt sẽ bằng nước Nhật, nước Mỹ! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng học trò xuất sắc của thằng Bác Hồ Dĩ Đại là thằng Lê Duẫn lệnh cho thằng Đỗ Mười ăn cướp toàn bộ tài sản của dân chúng miền Nam ngay cả những con búp bê! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng học trò xuất sắc của thằng Bác Hồ Dĩ Đại là thằng Lê Duẫn gây ra nạn đói vào cuối những năm bảy mươi và đầu những năm tám mươi! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Đỗ Mười qua Trung Cộng cầu xin cho quỳ gối trở lại khi Liên Xô sụp đổ! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Lê Khả Phiêu ký giao hàng chục ngàn kí lô mét vuông cho Trung Cộng kể cả Ải Nam Quan và thác Bản Giốc cùng các mỏ vàng ở vùng Thượng du Bắc Việt! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi các ngư phủ Việt Nam đi gần hải phận Hoàng Sa, Trường Sa đã bị quân Trung Cộng bắn, giết và bắt sống! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Phan Văn Khải và thằng Nguyễn Tấn Dũng qua Mỹ cầu xin, lạy lục với sự đồng ý của Trung Cộng! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi thằng Nguyễn Minh Triết rủ rê dân Mỹ và Việt Kiều Mỹ về chơi gái Việt ngon, rẻ, trẻ, đẹp! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi xuất cảng gái Việt ra khắp vùng Đông Nam Á ngày càng nhiều để làm đĩ bán trôn đem ngoại tệ về cho chúng nó! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi vơ vét ngoại tệ đầu tư, viện trợ, đem gởi ngân hàng nước ngoài mặc cho công nhân với đồng lương rẻ mạt và nông dân bán lúa giá bèo sống lây lất qua ngày, qua tháng! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi các mỏ cạn trơ đáy, rừng vàng trọc lóc và biển bạc xám xịt vì chất độc! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi "ngũ thái thú" Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang là những người Việt gốc Việt tự thiến đi để thành người Tàu gốc Tàu nói tiếng Việt làm những con Vàng, con Mực, con Đốm cho hai thằng Hồ Cẩm Đào và thằng Ôn Gia Bảo, những con chó trung thành giữ cái thẻo đất Hà Nội giùm cho Bắc Kinh. Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Ai cảm thấy tự hào và ai nghẹn ngào nhục nhã?

Chỉ có bọn Việt Gian Cộng Sản mới cảm thấy tự hào khi đưa đất nước vào vòng đô hộ thêm một ngàn năm nữa và lần này có lẽ đi vào cõi diệt vong! Toàn thể dân Lạc Việt nghẹn ngào, nhục nhã.

Chúng mày đang cảm thấy tự hào,
Chúng mày đang uống máu đồng bào.

Này hỡi, bọn Việt Gian Cộng Sản!

Lòng dân đang căm phẫn, nôn nao!

Trần Gia Tự