Wednesday, September 2, 2009

Bông Hồng Hiếu Hạnh - TNT Mặc Giang


TNT Mặc Giang


Trước Phật đài Tam Bảo chứng minh. Trong bửu điện trang nghiêm thanh tịnh. Đại Lễ Vu Lan Thắng Hội thập phần viên mãn. Mùa Báo Hiếu thiêng liêng lan tỏa khắp mười phương. Chắc chắn ba ngàn thế giới lay chuyển sáu lần rung động. Chắc chắn mười tám tầng địa ngục sẽ được mở toang. Bởi công ơn Cha Mẹ là một sự hiện hữu nhiệm mầu, tình thương Cha Mẹ là tất cả đất trời cao rộng, ngân hà xao xuyến, vũ trụ nao nao, trăng sao vằng vặc.

Là con hiền cháu thảo, ai ai cũng lặng yên, ai ai cũng trầm lắng, để nghe trong sâu thẳm tâm hồn tiếng nói dâng lên cho Cha, dâng lên cho Mẹ trong giờ phút trang trọng này đây.

Một bông hồng nào xin dâng lên quý Thầy ! Một bông hồng nào xin dâng lên quý Sư Cô ! Bông hồng nào cho Bác, cho Chú, cho Thím ! Bông hồng nào cho anh, cho chị, cho em ! Và xin hỏi, còn bông hồng nào cho tôi ?

Chúng ta hãy đón nhận thật chân thành, thật trọn vẹn. Hạnh phúc thay cho những ai còn mẹ ! Diễm phúc thay cho những ai còn cha ! Và, chữ và, xin chia sẻ với những ai đang cài hoa trắng !

Nhìn đóa hoa màu hồng trên áo quý vị, xin không cần nói một lời nào, mà quý vị hãy lặng yên, mỉm cười, sung sướng và sống trọn vẹn đi !

Nhìn đóa hoa màu trắng, biết chia sẻ gì đây, sẽ không có một ngôn từ nào thấm cùng trong nỗi lòng sâu lạnh, dù có lớn bao nhiêu, cũng sẽ mang cho đến trọn đời thân phận mồ côi.

Hai chữ Mẹ Cha, chúng ta không cần nói nhiều, mà chỉ ao ước còn tiếng Mẹ để chúng ta thưa, còn tiếng Cha để chúng ta trân quý. Không cao kỳ, không trau chuốt, không phết sơn. Bởi còn cha mẹ là còn tất cả, mất cha mẹ là mất tất cả. Đức Phật từng dạy “Phụ mẫu tại tiền như Phật tại thế”, nghĩa là Cha Mẹ còn sống giống như Đức Phật đang còn trên thế gian này. Ca dao Việt Nam cũng nói: “Còn cha còn mẹ là hơn, Không cha không mẹ như đờn đứt dây”.

Từ xưa tới nay và mãi mãi đến mai sau, hai chữ Cha Mẹ, có lẽ được nói nhiều nhất và được viết nhiều nhất. Hai chữ Cha Mẹ là cội gốc của tình thương vô tận và suối nguồn của đạo đức bao la, đã góp phần rất lớn trong gia tài văn hóa văn học nhân loại. Hai chữ Cha Mẹ, đã làm cho sách báo, văn chương, thi phú được chồng lên cao hơn. Vào nhà sách, thư viện, ghé mắt vào những tựa đề về Mẹ, về Cha, tình mẫu tử, tình phụ tử, các nhà văn nhà thơ đã đào sâu trong tận đáy con tim và mọi góc cạnh khối óc, sẽ thấy hai chữ Cha Mẹ được diễn tả tuyệt siêu, nhưng vẫn chưa hết và đôi khi ngượng ngập ngôn từ. Không những thế, trong cung bậc Tao đàn, trên sân khấu nhạc hội, và rừng hội họa nghệ thuật cũng diễn xuất không cùng. Thời đại tin học hôm nay, những gì về Cha về Mẹ cỡi trên sóng điện vi tính thiên thần, kỳ ảo thêm, diễm lộng thêm.

Ngôn từ Cha Mẹ còn bình dân hơn, gần gũi hơn, đơn sơ hơn. Tiếng võng đưa kẽo kẹt sau hè, hay nằm trong nôi em khóc, mẹ sẽ hát sẽ ru em ngủ, chị sẽ hát sẽ ru em ngủ ! Chắc chắn nhiều khi, có những hình ảnh thật tội nghiệp, người Cha hay người anh khốn khổ ẵm em em cũng khóc, ru em em cũng khóc, và người cha hay người anh nhìn em bằng ánh mắt gần như van lơn mà vẫn bất lực, không biết phải làm gì cho em. Trong chúng ta, tôi dám quả quyết ai cũng đã hơn một lần đã làm như thế !

Em bé “Ba năm bồng ẵm cảm ơn Cha”, đã biết nói hai tiếng Ba, Ba đầu đời. “Chín tháng cưu mang nhờ đức mẹ”, trong vòng tay bú mớm, em đã biết nói hai tiếng Má, Má thương yêu. Đến lúc lớn lên, trưởng thành, đi vào trường đời, đi vào xã hội, dù có làm ông nọ bà kia, hay phập phù giữa bại thành cuộc thế, dù được sống gần hay đang ở đâu xa, vẫn hỏi thăm và thưa ba thưa mẹ. Trong quán trọ vô thường một khi băng qua khúc rẽ ly tan, dòng tử sinh đôi bờ một khi gõ nhịp đành đoạn tạ từ, ta sẽ thảng thốt kêu lên Mẹ ơi, Ba ơi, và thế là nước mắt ta ràng rụa, lòng ta nát tan, trăng sao kia sẽ không đủ sáng giữa vòm trời, vật chất phù du kia sẽ tả tơi theo bèo bọt. Không phải chỉ đang lúc đó, mà kể từ ngày đó trở đi, cho đến bây giờ, mãi mãi mai sau, mỗi khi thương cha nhớ mẹ, ta như con đom đóm lập lòe tìm gọi bóng đêm, hay như kẻ lạc loài mò mẫm giữa hư vô và cúi mặt trước lâu đài phụ mẫu, nghe tiếng lòng thổn thức.

Trong chánh điện này đây, trước lễ đài này đây, giữa hội trường này đây, dù ai cài hoa hồng vẫn lo sợ, lo sợ gì mà “Đêm đêm thắp ngọn đèn trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con”. Còn những ai cài hoa trắng thì, chừng như tấm lòng quý vị trống vắng không cùng, và chừng như hai con mắt của quý vị nhìn thật xa xôi. Kia kìa, thấy chưa, không phải chừng như, mà thật sự hai con mắt quý vị đang tròn xoe, bờ mi đã ướt lên rồi. Một cụ già, đôi vành khô vẫn còn đủ sức long lanh, vài cụ lớn tuổi đôi bờ khô khốc, nhưng nước gì đang chảy ra, gạt lệ tay lau. Người trung niên cũng lặng lẽ, trầm ngâm. Thế còn anh, còn chị, còn em, sao lại cúi xuống, đỏ hoe ! Cả Thầy nữa, rồi Sư Cô nữa ! Xin lỗi nghe, chúng tôi không có dám đâu, và đâu có làm gì ?

Thưa quý vị. Hình ảnh trên đây không phải chỉ có hôm nay, mà đã nhiều lần, thật nhiều lần, vào mỗi độ Trung Nguyên, mỗi Mùa Hiếu Hạnh. Ngay cả chỉ một Mùa Báo Hiếu thôi, trong quý vị sẽ có người đi dự nhiều nơi, tôi đã chứng kiến đôi mắt quý vị lại tái lập như thế. Nếu hỏi tại sao, thì quả thật vô tình, một câu hỏi rất vô duyên. Nước mắt cho cha cho mẹ mà không biết chảy ra, không biết ngấn lệ, không biết vo tròn, thì xin lỗi, ta còn thua em bé và ta chưa lớn nổi làm người ?

Trong chúng ta, ai không nằm lòng “Công Cha như núi Thái Sơn, Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, ai không từng nghe “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào” hay “Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp một như đường mía lau”.
    “Bao nhiêu sách vở viết về Đức Mẹ
    Bao nhiêu chữ nghĩa viết về Công Cha
    Dù có nhiều như vũ trụ bao la
    Cũng không thể diễn tả hết được Tình Cha Nghĩa Mẹ”

    “Tình thương Mẹ, biển Đông thấm vào đâu
    Công đức Cha, núi Thái làm sao sánh
    Dù đem cả hằng hà sa pháp giới
    Cũng không sao đánh đổi hai chữ Song Đường
    Xin đi khắp cõi vô thường
    Soi ngàn đuốc tuệ thắp đường Từ Thân
    Xin đi khắp cõi phù vân
    Noi gương hiếu hạnh ân cần Mẹ Cha”
Hãy hình dung thời Đức Phật còn tại thế, hình như đôi mắt của Ngài mà ta tôn xưng Phật nhãn, vẫn lưng tròng khi Phụ Hoàng băng hà, vẫn rưng rưng khi đứng hầu kim quan, và trên đường di quan vẫn từng bước chân nặng trĩu. Lại một lần kia, khi cùng Tăng Đoàn đi khất thực, hỏi còn hình ảnh nào rung cảm hơn, xúc động hơn, chính Đức Phật đã :
    “Đáo bán lộ rành rành mắt thấy
    Núi xương khô bỏ đấy lâu đời
    Thế Tôn bèn vội đến nơi
    Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng”

    Ôi, cao thượng thay Đấng Thiên Nhơn chi Đạo Sư !

    Ôi, quý hóa thay Đấng tứ sanh chi Từ Phụ !
Phải chi Ngài điều ngự nơi đây cho chúng con đãnh lễ tôn thờ. Một kiếp này thôi, ân nghĩa cha mẹ, chúng con chưa trọn vẹn, nói chi đến quá khứ đa sanh phụ mẫu ! Một kiếp này thôi, bổn phận con hiền cháu thảo, chúng con mang bao nỗi đành đoạn đắng cay, thì làm sao đền đáp công ơn cha mẹ nhiều đời.

Phải chi Bồ Tát Mục Kiền Liên đang ở đâu đây, chúng con xin nương theo thần lực của Ngài để đi tìm khắp muôn hướng ngàn phương, đi sâu vào địa ngục dù có vô số cửa ngõ A Tỳ, chỉ cần nhìn thấy, Mẹ chúng con đang ở đâu, Ba chúng con đang ở đâu, rồi muốn làm gì chúng con xin nguyện tận lực hành trì.

Đâu cần nói chi xa phải không thưa quý vị ? Trong cuộc đời, bao nhiêu người được sống nơi chốn quê nhà, nhưng biết bao nhiêu người phải sống tha phương bởi duyên nghiệp hay hoàn cảnh khác nhau. Chỉ mong sao được về thăm nơi chôn nhau cắt rốn, được nhìn lại bàn thờ từ đường, ấp ủ dưới mái nhà tranh, bếp lửa hồng êm vợn khói, thoang thoảng hương cau, thơm thơm gạo mới. Và kia, dòng sông Quê Ngoại, bến cũ Quê Nội, đường đất bên làng, lối ngõ đầu thôn, rẽ ngang xóm nhỏ , ruộng lúa ngô đồng, “Làng quê nghèo cuối phương trời biền biệt, Bóng thời gian không đủ sức nguôi ngoai, Vẫn đong đầy và sống mãi trong tôi, Lỡ nhắm mắt ôm khối sầu muôn thuở”.

Và kia, ai sống thị thành, phố phường đô hội, “Những lối đi chạy ngang qua đất đỏ, Những lối về chạy dọc dưới trời xanh, Những mạch máu của trái tim thành phố, Những đốt xương của thân thể châu thành, Những con đường chúng mang hồn dân tộc, Qua không gian không thay đổi danh từ, Lối cỏ mới đề huề reo ánh sáng, Khách đi về cảm thấy khác tâm tư”. Rồi được đến thăm nấm mồ của Mẹ của Ba, bên Ông Bà Nội Ngoại Tổ Tiên, lục thân quyến thuộc quá vãng, để quỳ, để khóc, để thương, để nhớ, để được thắp một nén hương, mà kiếp sống xa nhà, dù đã 10 năm, 20 năm, 30 năm, hay hơn nữa, nhưng vẫn xin khẳng quyết mọi vùng đất dung thân không phải là cố quận, lại càng không phải quê hương của mình. Nhưng, “Khung trời quê vẫn ngậm sầu, nghìn trùng xa cách. Cõi trời quê vẫn chôn chặt, tận đáy hồn đau”.

Xin Cha tha cho chúng con. Xin Mẹ tha cho chúng con. Xa hơn nữa, chúng con xin tạ tội với người Cha cội nguồn của Văn Lang, xin khấu đầu với người Mẹ đầu tiên của Bách Việt, đã cho chúng con được mang dòng giống Lạc Hồng, tóc đen da vàng máu đỏ, nhưng lại mang một mảnh hồn đau và một trái tim nhức nhối.

Bạch quý Thầy, quý Sư Cô,

Thưa quý vị lớn tuổi cùng toàn thể anh chị em,

Một bông hồng đã đầy đủ chưa ? Một bông trắng đã thấm thía chưa ? Theo tôi, phải là một rừng bông hồng để dâng lên Mẹ, hay một rừng bông trắng để khóc cho Cha. Một rừng bông hồng để khơi động tình thương, và một rừng bông trắng để xóa tan vụn vỡ. Một rừng bông hồng để gìn giữ nâng niu, và một rừng bông trắng để tạ từ miên viễn.
    Nguyện cầu mười phương Chư Phật chứng minh
    Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ
    Nguyện cầu Đức Đại Hiếu Mục Kiền Liên soi sáng cho chúng con
    Nguyện cầu hồn thiêng sông núi Việt Nam gia hộ cho toàn dân nước Việt.
Và mầu nhiệm thay, thiêng liêng thay, chúng ta cùng nhắm mắt, chắp tay:
    Ba ngàn thế giới đang rung động !
    Tam đồ bát nạn đang mở toang !
    Một bông hồng biến thành vô số bông hồng để trọn vẹn mùa hiếu hạnh.
    Một bông trắng thấm sâu vô số bông trắng để kết nẻo phương đài.
    Đó mới thật sự là Bông hồng cài áo !
    Đó mới thật sự là bông trắng cưu mang !
    Đó mới thật sự là Mùa Vu Lan Thắng Hội !
    Đó mới thật sự là Giải Cứu Đảo Huyền, độ thoát hàm linh !
Trân trọng và trân trọng nhớ ân !
Chân thành và chân thành nhớ mãi !
Ngưỡng dâng Chư Tôn Đức Tăng Ni
Kính chào toàn thể liệt quý vị.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát.

Mùa Hiếu Hạnh 2009
TNT Mặc Giang


Tuesday, September 1, 2009

THÚI NGA, NGUYỄN NGỌC NGẠNG VÀ NGHỊ QUYẾT BĂM SÁU (36)


Ngày 10 tháng 10 năm 2009, tại rạp Performance Art, downtown Vancouver BC Canada, Live Show Thúi Nga in Vancouver.

(KÈM POSTER)

Với sự hổ trợ của Bộ Văn Hóa & nghị quyết 36, Trung Tâm Thúi Nga Ba Ri sẽ tổ chức đêm đại nhạc hội toàn ca sĩ Freelance, cùng với 4 ca sĩ đến từ Việt Nam. Nhìn poster sẽ rõ. Những ca sĩ Việt Nam trên poster đều ở hàng đầu và rất to nhớn. Có phải đây là những ca sĩ sẽ thay thế các ca sĩ Thúi Nga tại hải ngọai trong tương lai không? Hỏi ông giám đốc Thúi Rùm Tô Văn Lai sẽ rõ.

1. Tất cả ca sĩ bản quyền của THÚI NGA đâu hết rồi?
2. Hay THÚI NGA tẩy chay ca sĩ độc quyền của mình?
3. Live shows THÚI NGA hay live shows cho các ca sĩ BĂM SÁU (36)?
4. Các ca sĩ độc quyền của THÚI NGA sẽ nghĩ gì?

Đoán xem THÚI ... RÙM TRỜI sẽ làm nghị quyết BĂM SÁU (36) tại Vancouver Canada như thế lào? Nhớ mua vé xem live show và mang theo cờ vàng cho vui.

Nhân tiện nhờ THÚI RÙM & THÚI ÌNH NGUYỄN NGỌC NGẠNG và ZÔ ZIÊNG quảng cáo live giùm cho cái "Phong hóa nạo và hút thai Hà ... Lội Ba Đình mùa lày thật nhiều nắm những cơn mưa nàm thai nhi nổi nình bình, xập xình như đang zu zuơng vũ điệu twist và à go go trên nhà sàn của ... Bác".

Quảng cáo công khai nạo thai, hút thai và chọc thủng đầu thai nhi hết sức dã man như thế này chỉ thấy độc nhất vô nhị tại Cộng Hòa Xã Nghĩa Việt Cộng (Quảng cáo bên duới).

Hà Nội thanh lịch, tao nhã và ngàn năm văn vật nay còn đâu ! Than ôi !




DU HỌC SINH VIỆT NAM QUA NHẬN XÉT CỦA MỘT NGƯỜI TRANH ĐẤU - Đinh Lâm Thanh

Đinh Lâm Thanh

Qua các bản tin của cộng đồng, người ta được biết một số anh chị em du học sinh Việt Nam đã đến sinh hoạt một cách chân tình và cởi mở với tập thể người Việt Quốc Gia tại Texas. Những bài tường trình và hình ảnh trong những lần họp mặt nầy đã gây sự chú ý của nhiều người, và từ cơ hội nầy, tôi xin góp một vài thiển ý cùng quý thính cũng như độc giả nhằm bổ túc cho những bài viết của tôi trước đây về vấn đề du học sinh Việt Nam.

Trong thập niên vừa qua, số lượng thanh niên Việt Nam du học thật đông, nhìn chung đa số nằm trong chương trình trao đổi văn hóa với các xứ tự do Tây phương hoặc du học tự túc đối với những gia đình có khả năng và được nhà nước cho phép. Thừa cơ hội nầy cán bộ đảng viên, nói chung là thành phần lãnh đạo từ nhỏ đến lớn của đảng, đã ồ ạt gởi con em của họ ra ngoài du học. Trong đó, du học sinh gọi là ‘con ông cháu cha’ thì đa số đều nằm trong kế hoạch ‘tẩu tán tài sản’ và ‘đầu tư tương lai’ cho gia đình dòng họ đảng viên và cán bộ nhà nước. Ngoài ra, một ít tư nhân có khả năng tài chánh hoặc có người nước ngoài bảo lãnh thì những gia đình nầy cũng tìm cách vận động con cháu ra hải ngoại để thoát những chương trình giáo dục nhồi sọ vừa lạc hậu, vừa nặng phần chính trị của cộng sản trong nước. Có thể xem đây như một hình thức ‘tỵ nạn văn hóa’ của những gia đình biết nghĩ đến tương lai của con cháu. Thật khó nắm được con số du học sinh cho chính xác cũng như không thể ước tính được các thành phần khác nhau hiện đang có mặt tại các xứ tự do, tuy nhiên con số nầy có thể lên đến vài trăm ngàn mà đa số đều tập trung vào các nước lớn như Mỹ, Úc, Pháp, Canada …

Trước tiên phải nói rằng, đây là một điều vui mừng cho tương lai tuổi trẻ cũng như của Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam. Nguồn chất xám phong phú của thanh niên không thể bỏ phí hoặc đóng khung trong phạm vi hạn hẹp, một chiều, đi ngược với trào lưu tiến hóa nhân loại mà nhà nước đã kềm kẹp và nhồi sọ thế hệ trẻ kể từ lúc đảng cộng sản nhập khẩu nền ‘văn hoá đỏ’ của Mác-Lê-Mao vào đất nước không ngoài ngu muội hóa dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam thông minh, siêng năng đã ra sức xây dựng đất nước từ ngày lập quốc và anh dũng chống ngoại xâm cả ngàn năm lịch sử, nhưng thật bất hạnh, vì hơn 60 năm qua, chế độ cộng sản đã ngu muội hóa con người, đồng thời biến những bộ óc thông minh giới trẻ trở thành những khối thịt thiếu khả năng, vô tri giác và chỉ biết hưởng thụ. Mục đích của cộng sản là làm cho dân trở nên ngu dốt để dễ dàng cai trị, do đó, trên phương diện truyền thông, người trong nước không am hiễu gì về tình hình chính trị kinh tế cũng như những tiến bộ khoa học kỹ thuật đang biến chuyển từng giây từng phút trên thế giới. Như vậy, trước trào lưu tiến hóa của nhân loại, nếu một dân tộc nào chỉ cần dậm chân dừng lại tại chỗ vài bước tức là họ đã đi thụt lùi một đoạn đường quá xa. Huống gì người Việt trong nước chẳng những bị cộng sản bịt mắt che tai mà còn nhồi vào đầu những lời tuyên truyền tráo trở, đồng thời bưng bít thông tin, bóp méo sự thật…thì hành động của nhà cầm quyền Việt Nam đã phản lại đà tiến triển của nhân loại và chắc chắn chế độ cộng sản sẽ bị đào thải theo định luật tự nhiên.

Sau ngày cộng sản Việt Nam tuyên bố mở cửa thu hút đầu tư và vắt sữa người Việt hải ngoại thì nhà nước cũng ồ ạt xuất khẩu giới trẻ ra nước ngoài theo chương trình du học. Con số du học sinh tăng vọt lên từng năm và bây giờ ra đường (nói riêng ở Paris), thoáng qua, người ta cũng thấy số du học sinh Việt Nam nhiều hơn giới trẻ sinh sống ở bên nầy. Nhưng đây cũng là một điều đáng mừng để thế hệ trẻ Việt Nam được dịp ra ngoài, có cơ hội tiếp xúc với thế giới văn minh, từ đó thanh niên Việt Nam có thể thấy được đâu là tự do thật sự của con người đồng thời hiếu thế nào về một nền văn hóa nhân bản chân chính ở các xứ không cộng sản. Những hình ảnh nầy sẽ khơi động trí óc cũng như con tim giới trẻ Việt Nam, đồng thời sẽ giúp họ suy nghĩ và so sánh với thế giới bên ngoài với những gì đã và đang xảy ra ở tại Việt Nam.
Thử xếp loại du học sinh hiện đang có mặt tại những nước lớn qua nhiều lý do xuất ngoại khác nhau, rồi từ đó, tìm hiểu tâm tư tình cảm và nguyện vọng của từng thành phần một, như vậy mới hy vọng nắm được những yếu tố riêng biệt trước khi có một lối nhìn và phán đoán trung thực :

A. Tạm chia thành phần du học sinh như sau:

A1. Thành phần con ông cháu cha : Đa số du học sinh Việt Nam hiện nay thuộc dạng nầy, được hưởng đặc quyền đặc lợi của đảng và nhà nước. Họ dư thừa điều kiện và thế lực để chiếm hết chỗ trong những chương trình trao đổi văn hóa với các nước Tây phương. Phải nói rằng đa số thành phần con ông cháu cha dưới thời nào thì cũng là cặn bã của xã hội. Nhưng dưới chế độ cộng sản thì chúng còn tồi tệ gấp trăm lần so với hàng ngũ con ông cháu cha của chính thể Việt Nam Cộng Hòa trước kia. Những điều thấy trước mắt, con ông cháu cha ngày nay là những du học sinh thiếu khả năng ngay từ trong nước. Không học vẫn thi đỗ hoặc để xuất ngoại thì xài bằng giả, bằng mua hay bằng chạy chọt. Chữ nghĩa đã kém mà trình độ ngoại ngữ không ra gì nhưng vẫn luôn luôn ưu tiên đi du học do ngân sách nhà nước đài thọ hay bởi tiền ăn cắp của dân. Khi ra xứ ngoài thì cậy tiền, cậy quyền, cậy thế không đến trường và phung phí tiền bạc. Đa số không đủ khả năng, vừa sinh ngữ vừa kiến thức để vào giảng đường thì chỉ còn cách tụ tập ở các nơi ăn chơi trác táng. Tiền của cướp của dân nghèo Việt Nam qua tay con ông cháu cha quá dư thừa. Thành phần nầy không xài tiền cắc, tiền đồng ($US) mà đơn vị tiền tệ căn bản của con ông cháu cha để đối thoại, trao đổi với nhau hoặc chi dùng mua sắm hằng ngày là ‘giấy’ (một giấy là 100 dollars) ! Tôi lấy một một trường hợp có thật 100% sau đây: Hai cô thuộc loại con ông cháu cha qua Pháp du học theo ngành kinh tế thương mãi. Sau vài giờ ở giảng đường thì phải bỏ lớp vì không đủ kiến thức và sinh ngữ để theo dõi bài học. Các cô quay qua việc ăn chơi du hý và tìm cách gầy dựng hôn nhân cho mình. Xin ghi nguyên văn điều kiện chào hàng kiếm chồng của hai cô: Phải là quốc tịch Pháp, bác sĩ chuyên môn hay kỹ sư cao cấp (?), đẹp trai và chính thức độc thân. Ai đủ tiêu chuẩn thì gia đình liên hệ sẽ được bù đắp xứng đáng bằng quà cáp và tiền bạc ! Hai cô thuê hai phòng trong một ngôi nhà lớn ở ngoại ô Paris. Vì theo thói tiêu xài phung phí nên xử dụng điện nước một cách bừa bãi. Chủ nhà than phiền và đề nghị tiết kiệm giùm thì hai cô đã trả lời một câu thật dễ thương như sau: Nhằm nhò gì, muốn mấy ‘giấy’ nói đi ! ‘Bà’ sẽ thí cho để trả thêm tiền điện nước ! (Người chủ nhà hiện sống tại ngoại ô Paris). Từ đó tôi có thành kiến với thành phần du học sinh con ông cháu cha.

A2. Dạng xuất khẩu lao động: Ngoại trừ những trường hợp tu nghiệp trong vài lãnh vực chuyên môn, số còn lại được nhà nước cài thành phần công an, điệp viên trong công tác địch vận, hoặc có những trường hợp chính tư nhân phải đóng tiền để được xuất khẩu dưới lớp vỏ du học sinh như tu nghiệp uốn tóc, làm móng tay và làm việc trong các nhà hàng, tiệm chạp phô. Đối với tôi, ngoài thành phần con ông cháu cha ra thì cần phải cảnh giác nhóm tình báo, công an, tuyên truyền do nhà nước gởi đi lẫn lộn trong thành phần du học sinh theo kế hoạch của nghị quyết 36. Số còn lại là những du học sinh có tinh thần học hỏi, muốn mở mang thêm tầm hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp cũng như những người ra ngoại quốc dưới dạng xuất khẩu ‘lao động cao cấp’ do hợp đồng ăn chia với nhà nước, thì người Việt hải ngoại cần tìm phải hổ trợ và nâng đở họ. Tôi đã gặp nhiều thanh thiếu niên làm việc trọn ngày trong tuần tại các siêu thị, quán ăn nhà hàng. Qua vài lần tâm sự thì biết họ chính là du học sinh trá hình, trả tiền cho nhà nước để ra ngoại quốc làm việc kiếm tiền giúp gia đình. Một vài năm, sau khi trừ ‘hụi chết’ đóng cho các cơ sở ăn cướp họ cũng kiềm được một số vốn cho gia đình còn khá hơn là đi làm nô lệ tại các xứ Á châu như Đại Hàn, Đài loan, Mã lai. Những trường hợp nầy tôi đề nghị giúp đở họ để chống lại các ma đầu Tàu cũng như Việt đang ăn cướp mồ hôi của những người làm lậu, ép giờ giấc làm việc, bóp chẹt tiền lương trả cho nhân công theo thói quen của người Á châu thường khai man với sở thuế.

A3. Thành phần tỵ nạn văn hóa: Đây là một hình thức hình thức gởi thanh niên ra ngoại quốc mà đa số người trong nước đã cố gắng lo cho con em mình đi du học. Mục đích vì tương lai con cháu. Nếu không thuộc thành phần có liên hệ mật thiết với cộng sản thì dù có thông minh, học hành đổ đạt đến đâu cũng không được xã hội trọng dụng so với lớp trẻ con ông cháu cha và tỷ phú đỏ. Và một điểm quan trọng không kém nữa, cho con cháu ra ngoại quốc học không ngoài mục đích để thoát khỏi chương trình giáo dục nhồi sọ đã lạc hậu, phản khoa học, yếu kém mà còn nặng mùi chính trị một chiều. Tôi đã gặp nhiều du học sinh thuộc thành phần nầy trong các thư viện, họ chăm chỉ học hỏi, nghiên cứu tìm tòi để sớm hoàn tất chương trình học vì các anh chị nầy thấy được giá trị đồng tiền, mồ hôi nước mắt mà gia đình phải thắt lưng buộc bụng để nuôi họ ăn học. Một điều cần ghi nhận thêm, thành phần nầy khá kín đáo trong giao tiếp và ít đề cập đến vấn đề chính trị, có lẽ vì sợ liên lụy cho gia đình một khi tiếp xúc với người Việt nước ngoài

A4. Thành phần hiếu học và cầu tiến: Khi nói về du học sinh Việt Nam thì không thể vơ đũa cả nắm. Giữa đa số thành phần xấu ‘con ông cháu cha’ và tỷ phú đỏ, tôi đã gặp những anh chị em thật chăm chỉ và có tinh thần cầu tiến, ngoài giờ vào giảng đường thì họ đi làm thêm ban đêm hoặc cuối tuần dành trọn hai ngày để bán hàng trong các siêu thị cũng như phụ bếp hay phục vụ khách hàng ở các tiệm ăn. Họ có những nét dễ gây thiện cảm đối với người Việt hải ngoại hơn thành phần du học sinh con ông cháu cha và tỷ phú đỏ. Trong tiểu mục nầy tôi xin đề cao một số anh chị em du học sinh tiến bộ, vì sau khi giao tiếp với thế giới văn minh, hiểu được thế nào là nền văn hóa nhân bản, là hai chữ tự do đúng nghĩa, thì họ đã mạnh dạn công khai bày tỏ quan điểm về những sai lầm của nhà cầm quyền trong nước đồng thời kêu gọi giới trẻ hãy tỉnh giấc, đứng lên làm lại lịch sử.

B. Mục đích của đảng cộng sản trong việc gởi con cháu và nhân viên công an tình báo qua chương trình du học sinh:

B1. Đào tạo thế hệ đỏ: Đưa con ‘ông cháu cha’ đi du học, mục đích của cộng sản là nhờ thế giới văn minh bên ngoài đào tạo một thành phần cai trị trẻ trung để có thể nối tiếp sự nghiệp đảng cộng sản sau nầy. Các ủy viên bộ chính trị trung ương đảng cũng biết rằng, cả thế giới đều xem họ là thành phần xuất thân từ rừng rú, có người chưa qua được bậc tiểu học trường làng nhưng đã dựa vào súng đạn để ngồi lên đầu người dân từ trên 60 năm qua và đã đưa đất nước cũng như dân tộc Việt Nam từ lạc hậu đến chỗ diệt vong. Ngày nay, chúng phải đào tạo cho con cháu một chút vốn kiến thức văn minh, học hỏi thêm những trò ma giáo của giới tư bản để mai kia tiếp tục nối tiếp sự nghiệp cai trị theo đường lối của chúng. Nhóm ‘con ông cháu cha’ nầy đã nắm chắc trong tay tương lai tươi sáng của mình, dù có học được chữ nào ở hải ngoại hay không cũng không quan trọng, vì những chiếc ghế quyền lực đã được đánh số theo thứ tự ưu tiên. Đối với thành phần nầy thì ‘nhỏ thất học lớn cũng thành bộ trưởng’ và rồi tương lai đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu dưới tay những thứ cặn bã xã hội nầy !

B2. Tẩu tán tài sản và đầu tư tương lai: Vấn đề nầy quan trọng hơn việc cán bộ đảng viên cộng sản gởi con cháu ra nước ngoài học hỏi để mở mang kiến thức. Đó chính là việc ‘tẩu tán tài sản’ và ‘đầu tư tương lai’. Ngoài những bất động sản tại Việt Nam mà chúng không thể bứng đi, vàng bạc ngoại tệ chìm nổi cướp được không thể lưu lại hay đầu tư ngay trên đất nước vì ngày tàn của chế độ cộng sản đã điểm. Chúng bắt buộc phải tấu tán tối đa những gì có thể đưa ra nước ngoài mà sự hiện diện người thân của chúng ở trên khắp các xứ tự do là một thời cơ thuận lợi. Một khi có con cháu ở nước ngoài thì chúng có thể tạo được điều kiện hợp pháp để chuyển tiền bạc, mua nhà đất và thiết lập các cơ sở thương mãi. Đó chưa kể đến việc mang tiền bất hợp pháp của việc đi lại thường xuyên giữa gia đình và du học sinh, cũng như chuyển lậu dưới hình thức ngoại giao qua các tòa đại sứ Việt cộng. Tạm lấy một con số nhỏ để tính: Ví dụ 100.000 du học sinh ở nước ngoài một năm gia đình chuyển cho ‘tiền tiêu vặt’ tệ nhất là 10.000 dollars mỗi người, dù chỉ nói sơ qua chuyện ‘tiêu vặt’ của một du học sinh thì tổng số tiền cũng lên đến một tỷ mỹ kim (100.000 x 10.000). Đó chưa kể đến việc giữa con ông cháu cha và gia đình đi lại như con thoi giữa các năm học, mỗi lần cất giấu vài ba chục ngàn, trăm ngàn dollars thì số tiền chuyển lậu ra nước ngoài qua ngả du học sinh là bao nhiêu ? Tóm lại việc gởi con cháu đi du học của đảng viên cán bộ nhà nước chính là âm mưu ‘đầu tư tương lai’ cho gia đình dòng họ. Ngoài ra, nhờ thành phần du học sinh nầy mà các cơ sở vật chất cũng như các điều kiện nhập cảnh đã được con cháu chuẩn bị chu đáo từ trước, do đó, một khi bị đá xuống ngựa thì gia đình giòng họ nội ngoại của cán bộ đảng viên cứ thong dong lên máy bay đi ra nước ngoài.

B3. Phá hoại cộng đồng: Thành phần phá hoại được cài trong dạng du học sinh ra nước ngoài để tham gia vào các sinh hoạt của người Việt ở các thành phố lớn. Nhóm nầy có mặt từ trong các trường đại học, câu lạc bộ trẻ, câu lạc bộ thể thao, câu lạc bộ văn hóa và nhất là những nơi đông người Việt như chợ Á châu, cửa hàng chạp phô cũng như các tiệm ăn. Thành phần nầy được huấn luyện chu đáo về các chương trình đặc công, ‘hành động’, võ thuật, kiều vận, địch vận, thông tin tình báo rồi cộng sản cho ra nước ngoài làm việc ở hai môi trường. Môi trường thứ nhất với tập thể người Việt, thì thu nhặt tin tức, lôi kéo, truyên truyền, điều tra, báo cáo theo chỉ thị cấp trên. Môi trường thứ hai đối với thành phần du học sinh, thì theo dõi, điều tra, hăm họa và ‘hành động’ đối với anh chị em nào có tinh thần tiến bộ cũng như có liên hệ với người nước ngoài, nhất là đối với những ai mà cộng sản đã liệt kê trong sổ đỏ và đánh giá theo thứ tự qua 4 loại : nghi ngờ (1), theo dõi (2), nguy hiểm (3) và cực kỳ phản động(4).

B4. Tiếp xúc và lôi kéo thành phần trẻ hải ngoại : Một vai trò quan trọng được đảng cộng sản giao cho du học sinh trong các trường đại học: Du học sinh phải tiếp xúc, len lỏi vào các sinh hoạt của sinh viên để lôi kéo giới trẻ hải ngoại theo âm mưu nghị quyết 36 của Hà Nội. Đây là môi trường mua chuộc giới trẻ hải ngoại thật hiệu quả, bằng chứng là một số sinh viên con cháu của những người thuộc thành phần tỵ nạn chính trị cũng vướng vào bẫy, trở mặt chống lại cha chú, ngang nhiên chống đối chính nghĩa quốc gia cũng như cộng cuộc tranh đấu của cộng đồng, điển hình là vụ Brian Đoàn với cuộc triển lãm hình già Hồ và cờ đỏ sao vàng tại Santa Anna !

B5. Trồng-cấy người bằng hôn nhân : Cộng sản lợi dụng tình trạng hôn nhân để cấy và trồng người một cách rất hợp pháp. Kế hoạch của cộng sản là cứ đưa ra nước ngoài hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ chưa có gia đình, tạo cho họ những cơ hội giao tiếp giữa nam với nữ. Giới trẻ ở nước ngoài, dù thuộc thành phần gia đình đố kỵ với cộng sản, nhưng một khi chung đụng lâu ngày với du học sinh Việt Nam thì tình cảm vẫn nở ra. Hậu quả đã làm cho nhiều bậc cha mẹ thuộc giới tỵ nạn chính trị phải đau lòng. Trớ trêu là thời đại nầy, việc hôn nhân của con cháu ví như chuyện cái ‘cày đi trước con trâu’, đôi khi nhiều bậc cha mẹ phải ngậm đắng nuốt cay gật đầu khi chuyện đã rồi ! Đó là bài học mà cộng sản nghiên cứu kỹ lưởng khi đưa thanh niên nam nữ độc thân ra xứ ngoài trong kế hoạch cấy người qua hình thức hôn nhân. Một điều xin ghi nhận, khi một đảng viên cán bộ nào cưới hoặc gã được con cho một gia đình người Việt ở hải ngoại thì xem như được lên thiên đàng với nhiều lý do sau: Thứ nhất, cơ hội ngàn vàng để hợp thức hóa gia tài đang cất giấu ở nước ngoài dưới tên dâu tên rể đồng thời có cơ hội mang tiền của ra đi qua lý do thăm con thăm cháu. Thứ hai, nhờ dâu nhờ rể để hy vọng bám được tình trạng tạm trú lâu dài và có thể nhập tịch sau nầy nhằm bảo đảm tương lai một khi bị đá xuống ngựa. Thứ ba, quan trọng hơn cả là khi một gia đình hải ngoại trở thành người nhà, cộng sản chẳng những đã giảm bớt được một số người chống cộng mà gia đình sui gia ở hải ngoại còn trở thành ‘thành viên’ danh dự xã hội chủ nghĩa. Tự nhiên nhờ vấn đề hôn nhân mà hàng chục người liên hệ trong gia đình người Việt tỵ do hải ngoại phải ngậm miệng chống đối và còn có người hãnh diện được làm ông bà sui gia với các tay lãnh đạo cao cấp của chế độ cộng sản. Như chúng ta đã thấy, chỉ vì chuyện hôn nhân nhỏ nhặt nhưng đã đổi thế xoay chiều một số lớn người trong thành phần tranh đấu chống cộng. Nếu chừng 20% du học sinh (khoảng 20.000) thành công trong việc bắt được khế ước hôn thú với người nước ngoài thì xem như chính thức cộng đồng người Việt hải ngoại mất đi 40.000 người chống cộng (tính cha mẹ là vai chính mà thôi, chưa kể anh chị em dòng họ bạn bè …). Bởi vì những người kết sui gia với đảng viên cán bộ gộc cộng sản thì chắc chắn họ phải tránh né cộng đồng, ít xuất hiện trong các cuộc hội họp, biểu tình vì ‘sợ mất lòng’ và ‘khó ăn nói’ với gia đình ông bà sui !

Ngoài ra, âm mưu kết sui gia với gia đình người Việt nước ngoài còn là một hình thức rửa tiền dơ và chuyển tiền lậu qua hình thức qua lại hai chiều như sau: Gia đình nước ngoài (ông bà sui gia, con dâu hoặc chú rể) sẽ đứng tên, thành lập các công ty tại Việt Nam với số vốn hàng triệu, hàng chục triệu Mỹ Kim. Vốn nầy không phải mang từ nước ngoài vào mà là tiền do đảng viên cán bộ ăn cướp của Việt Nam đưa ra đầu tư. Các công ty nầy lúc nào cũng kết toán ma với thương số hàng tỷ và lời hàng trăm triệu. Mục đích của chúng để làm bình phong chuyển tiền lời ra nước ngoài theo đặc ân của đảng qua chương trình mở cửa. Đồng thời, giới cầm quyền trong nước mua cổ phần hay mở ngược trở lại ở xứ ngoài nhiều ngân hàng với hàng ngàn trương mục của người trong nước cũng như con cháu dòng họ đã ra đến ngoại quốc đứng tên, mục đích nhằm để chuyển tiền, vừa chính thức vừa lậu ra nước ngoài. Một khi những gia đình sui gia đã có cơ sở thương mãi với vốn đầu tư nước ngoài 100% tại Việt Nam và những ngân hàng ở ngoại quốc móc nối với nhau thì sẽ có trăm phương ngàn kế để chuyển tiền, rửa tiền một cách mờ ám và bất hợp pháp mà chỉ có đảng viên cộng sản, là những tên điếc không sợ súng mới dám thực hiện. Do đó đừng ngạc nhiên có nhiều gia đình người Việt hải ngoại tự nhiên ‘ăn nên làm ra một cách thần thánh’ với Việt Nam’ khi trở thành sui gia với đảng viên cán bộ nhà nước !!!

Để chấm dứt phần trình bày về vấn đề hôn nhân, tôi không quên đưa ra vài trường hợp ngoại lệ của những cuộc cưới hỏi giữa người Việt hải ngoại với gia đình ‘thường dân’ trong nước. Đây là những cuộc thành hôn đáng chia vui, vì nhờ cơ hội nầy, một số thanh niên nam nữ có dịp thoát được cái ‘địa ngục trần gian cộng sản’ để làm lại cuộc đời và tìm hạnh phúc ở những vùng trời tự do. Nhưng các gia đình hãy coi chừng bị móc túi, cần lưu ý các tòa lãnh sự nước ngoài cũng như cơ quan ăn cướp trong nước làm tiền cô dâu chú rể một cách trắng trợn chưa từng thấy. Riêng việc chi tiền máy bay đi về nhiều lần, xin vài con dấu trên tấm giấy hôn thú từ khóm, phường, quận, thành phố ra đến cơ quan trung ương thì đã thấy chóng mặt và mất khá nhiều tiền về cái gọi là thủ tục ‘đầu tiên’ !

C. Vai trò các cơ quan ngoại giao cộng sản Việt Nam với Việt kiều và du học sinh:

C1. Vai trò của các toà đại sứ: Là cơ quan ngoại giao nhưng các tòa đại sứ, lãnh sự ở nước ngoài chính là những cơ sở kinh tài, ổ phá hoại và là nơi kiểm soát kềm kẹp du học sinh cũng như những ai mang trên người giấy thông hành quốc tịch Việt Nam. Những việc nầy xảy ra tại các tòa đại sứ Việt cộng ở các nước Đông-Âu, là nơi đa số thành phần lao động được cộng sản gài lại sau khi các quốc gia nầy thay đổi chế độ cũng như đi những người trong nước đóng tiền để được xuất khẩu đi bán mồ hôi, nước mắt và máu. Truyền thông báo chí thường phổ biến những tin tức cho thấy rằng thành phần du học sinh cũng như những người lao động cũ còn lại ở các xứ nầy đều bị những yêu sách làm tiền, kiểm soát kềm kẹp và gây khó khăn về tất cả mọi phương diện. Mục đích của cơ quan ngoại giao ở nước ngoài là bảo vệ quyền lợi công dân của họ, nhưng đối với cộng sản thì đây là nơi tập trung buôn lậu, ăn cắp, bán visa, kềm kẹp và làm tiền những ai còn mang quốc tịch Việt Nam. Trong đó thành phần du học sinh (ngoại trừ con ông cháu cha) cũng chẳng hơn gì thành phần lao động, là những nạn nhận bị chèn ép và hành hạ từ tinh thần đến vật chất.

C2. Làm tiền, khống chế và hăm dọa là nghề chính của các tòa đại sứ cũng như lãnh sự quán. Một câu chuyện xảy ra ngay trong tòa đại sứ Nhật Bản chừng vài tháng trước đây đã làm thế giới kinh ngạc tột độ: Đó là một người đàn bà có chồng người Nhật nhưng còn mang quốc tịch Việt Nam đến lãnh sự quán xin về phép thăm quê nhà. Nếu bà nầy để ông chồng ra mặt đóng tiền mua visa thì chắc không có chuyện gì xảy ra. Nhưng tại đây, bà nầy tiếp xúc với nhân viên sứ quán thì bị làm tiền một cách trắng trợn. Bà không chấp nhận một số tiền hối lộ quá lớn thì nhân viên tòa đại sứ ở đây đã giựt bóp lấy tiền và xô bà nầy té dập mặt bể đầu trước mặt ông chồng cũng như những người Việt cũng như người ngoại quôc đang sắp hàng ‘mua’ visa. Đối với thành phần du học sinh thì tất cả các cơ quan ngoại giao không những là cơ sở ‘công an’ để rình rập, theo dõi từ tư tưởng đến hành động từng du học sinh một mà còn là một lò kềm kẹp, khống chế du học sinh để bắt thành phần trẻ nầy phải vào khuôn phép và thi hành mệnh lệnh của trung ương. Nhìn lại những cảnh tòa đại sứ điều động du học sinh mang cờ đỏ xuống đường thì có thể hiểu được phần nào tổ chức của họ. Bọn ‘đầu gấu’ thì giấu mặt chỉ huy, ‘con ông cháu cha’ tập trung thành một nhóm được bảo vệ kỹ càng còn các em du học sinh thuộc thành phần ‘con chốt’ bị đẩy ra thi hành nhiệm vụ, nếu có chuyện gì xảy ra thì chính thành phần đáng thương nầy sẽ lãnh đủ. Trong một cuộc biểu tình tố cáo tình trạng nhân quyền tại quảng trường Trocadéro cách đây hai năm, tôi được anh em báo cho biết là có hai em du học sinh trưng cờ đỏ sao vàng ra để chụp hình. Tôi vừa đi đến thì các tay ‘đầu gấu’ ra hiệu cho hai em có sự hiện diện của tôi đang ở sau lưng. Hai em nhìn tôi có vẽ sợ, tôi cười và ôn tồn nói với hai em rằng: Ở đây chúng tôi chống chế độ các anh, chống cờ đỏ sao vàng thì các anh trương cờ đỏ sao vàng ra trong dịp nầy thấy không thích hợp chút nào cả. Các anh đến với chúng tôi, chúng tôi hoan nghênh nhưng xin cuốn cờ và cất đi để tránh những trường họp đáng tiếc xảy ra. Một em nhìn tôi nói nhỏ như phân trần: Mong bác thông cảm, cháu có nhiệm vụ phải chụp một vài tấm hình với cờ để nạp cho tòa đại sứ. Bây giờ tôi mới thấy thấm thía thân phận của một du học sinh dưới chế độ cộng sản và tôi mĩm cười nói với hai em : Hai em cứ chụp vài tấm hình để nạp cho tòa đại sứ rồi cuốn cờ lại. Vậy có thể kết luận rằng vai trò của các cơ quan ngoại giao nước ngoài đối với du học sinh là việc kiểm soát từ tư tưởng đến hành động, chỉ huy và sai khiến du học sinh phải tuân theo kế hoạch kiều vận của chúng. Cúp học bỗng, không gia hạn visa, đuổi về nước là những biện pháp đế hăm dọa, đàn áp những thành phần du học sinh có tinh thần học hỏi, yêu nước và có đầu óc tiến bộ.

C3. Vô trách nhiệm đối với du học sinh : Trong tiểu đoạn nầy, tôi xin đưa ra một chuyện thương tâm để chứng minh tinh thần vô trách nhiệm của các cơ quan đại diện cộng sản ở nước ngoài. Trước đây, một nữ du học sinh bị chết vì một nguyên nhân nào đó trong lúc cô không có thân nhân tại Pháp. Đáng lý các cơ quan ngoại giao sở tại phải có bổn phận cũng như trách nhiệm lo việc hậu sự cho cô du học sinh nầy, nhưng toà lãnh sự tại Pháp đã phủi tay trốn tránh trách nhiệm. Sự việc gây bất bình cho các anh chị em du học sinh cùng thời, trong đó có vài người nằm trong tổ chức ‘đầu gấu’ (nhiệm vụ ngầm là theo dõi, kiểm soát và khống chế du học sinh) đã bất mãn, lên tiếng phản đối thì trong số nầy có một anh bị đuổi về lại Việt Nam !

D. Thái độ, suy tư và nguyện vọng của các thành phần du học sinh:

D1. Đối với thành phần con ông cháu cha thì chúng ta nhận ra rất dễ dàng: Đã quen thói mất nết từ trong nước và khi ra xứ ngoài thì chứng nào vẫn tật nấy. Chúng hống hách vì ỷ vào quyền lực và tiền bạc của gia đình, do đó xem thường tất cả mọi người, chẳng những với đồng môn du sinh với nhau mà còn đối với ‘Việt kiều cùng loại’, khách đi đường cũng như người lạ mặt. Chúng phung phí tiền bạc một cách kịch cởm như cha ông chúng nó, trong nước, dám thách đố nhau trước người đẹp bằng lối chơi của các công tử rừng xanh: Chúng ‘boa’ (biếu) cho gái chạy bàn một xấp ‘giấy’ (100 $/US) hay nhét vào áo lót của các em nguyên cả cây vàng, thì tại Paris người ta cũng gặp những tên mặt còn búng ra sữa nầy trong các nhà hàng ca vũ nhạc ‘De luxe’ với những chai champagne giá cả ngàn euros ! Đầu óc thành phần cặn bã nầy chí có tiền và chỉ biết hưởng thụ, chúng chẳng có suy tư, mơ ước hay một ý niệm gì cho tương lai đất nước. Một mai nếu quê hương sẽ nằm trong tay thành phần nầy thì đây là một đại họa cho cả dân tộc cũng như quê hương Việt Nam. Đi du học nước ngoài thành công hay thất bại, có lấy được mảnh bằng gì hay không cũng không quan trọng với đám ‘con ông cháu cha nầy’, vì tiền bạc đang đầy túi và sau khi trở về nước thì chỗ ngồi đã có sẵn. Chỉ một điều duy nhất làm chúng nó lo sợ đó là cuộc một ‘đổi đời’ sắp đến và số phận quyền lực tương lai của gia đình dòng họ của chúng mà thôi !

D2. Mỗi thành phần du học sinh có tính hiếu học và có trí óc biết suy nghĩ đều có những trăn trở và nguyện vọng khác nhau về thân phận của họ, của gia đình cũng như tương lai đất nước. Nhưng những suy nghĩ cũng như hoạt động của các nhóm du học sinh nầy ngày đêm đều bị tổ chức ‘đầu gấu’ theo dõi và kiểm soát. Do đó ngay giữa họ với nhau cũng đã có những e dè sợ sệt, vì trong mỗi tổ sinh hoạt không biết ai là công an, ai là ‘ăng ten’ đang theo dõi. Nếu vô ý phạm một lỗi lầm nào theo những điều khoảng đã cam kết trước khi đi thì phải bị những hình phạt, từ hình thức nhẹ nhất là tự kiểm đến việc không được gia hạn chiếu khán, hăm dọa gia đình hoặc đuổi về lại Việt Nam. Thành phần thầm lặng nầy cũng chiếm đa số trong giời sinh viên, họ chăm chỉ học hành và làm việc thêm để phụ với gia đình vào các việc chi phí. Tuy nhiên gần đây người Việt hải ngoại vẫn đọc được rất nhiều bài viết trên các diễn đàn hay blogs cá nhân: Họ đã biễu lộ sự bất mãn bằng những tâm sự nhẹ nhàng mục đích nhắn nhủ với nhà cầm quyền, hoặc những bài viết phẫn nộ kêu gọi giới trẻ quốc nội đứng dậy giải thể chế độ.

D3. Tôi đã nhiều lần đến các thư viện kiếm cách làm quen với những thành phần du học sinh tiến bộ không ngoài mục đích tìm hiểu và tạo cảm thông với họ. Sau một thời gian khá dài tôi có thể tóm lược những quan điểm khác nhau từ các anh chị em du học sinh khi được hỏi về hiện tình đất nước cũng như sự hiện diện của chế độ cộng sản. Đây là bốn câu trả lời của họ :

1. Bảo vệ nhà nước hiện tại và duy trì chế độ cộng sản.
2. Muốn thay đổi một vài điểm trong đường lối cai trị nhưng phải giữ nguyên chế độ cộng sản.
3. Hòa giải hòa hợp với cộng sản để xây dựng đất nước.
4. Muốn có một cuộc cách mạng toàn diện để thay đổi hoàn toàn đường lối chính trị của Việt Nam.

Đi vào bốn câu 1, 2, 3, 4 trên, tôi xin trình bày quan điểm của tôi:

Thứ nhất: Quan niệm phải bảo vệ nhà nước hiện nay và duy trì chế độ cộng sản, thì theo tôi, không cần thiết phải bàn đến vì đây là chủ trương của nhóm du học sinh ‘con ông cháu cha’ cũng như ‘tỷ phù đỏ’. Nghĩa là họ thuộc thành phần sinh ra và trưởng thành đều do ân huệ của đảng và nhà nước thì dĩ nhiên họ phải bảo vệ lấy cha ông, bảo vệ lấy tài sản để tiếp tục nối nghiệp quyền lực và hưởng quyền lợi mà đảng và nhà nước đã dành cho họ.

Thứ hai: Muốn một vài thay đổi để cho dân chúng có được chút tự do, nhưng vẫn giữ nguyên chế độ cộng sản, là quan điểm của đảng đối lập cuội của Hoàng Minh Chính do một số du học sinh đưa ra nước ngoài dưới danh từ ‘tập hợp thanh niên dân chủ’, ‘nối vòng tay lớn’. Mục đích của nhóm nầy là ‘cầu khẩn’ và ‘van xin’ nhà nước cộng sản nới tay ban phát một chút tự do cho người dân trong nước. Điều nầy thì người Việt tự do không bao giờ chấp nhận. Đối với cộng sản là phải đánh đổ chứ không thể đội lên đầu hoặc đặt chúng trên ngai vàng rồi quỳ lạy van xin như một kẻ ăn xin. Tự do dân chủ và nhân quyền của con người không thể chầu chực cầu khẩn mà có, mà phải tranh đấu, phải hy sinh từ mồ hôi nước mắt và xương máu mới dành lại được. Lịch sữ Việt Nam đã chứng minh, dân tộc ta phải hy sinh từ thế hệ nầy đến thế hệ khác mới đánh đuổi quân Tàu cũng như Tây để dành lấy độc lập. Ngoại trừ già Hồ, là tên đồ tể ngoại lệ, đã bán nước, đội quan thầy Nga Tàu lên đầu xin quyền lực về đàn áp dân tộc Việt Nam. Ngày nay nhóm du học sinh trẻ nầy bắt chước theo đường lối già Hồ, vận động giới trẻ trong ngoài nước quỳ lạy đảng cộng sản để xin một chút ít tư do dân chủ thì không thể chấp nhận được.

Thứ ba: Hô hào hòa giải hòa hợp để xây dựng đất nước, nghĩa là hợp tác với kẻ thù và dành cho cộng sản một con đường sống. Như tôi đã trình bày vấn đề nầy trong các bài tham luận từ mấy năm qua; cộng sản là loại siêu vi khuẩn vô cùng độc hại, một khi đã diệt thì phải diệt tận gốc, nếu không, mầm mống cộng sản trổi dậy thì còn độc và nguy hiểm gấp trăm gấp ngàn lần. Nguy hiểm nầy có thể ví như một bệnh truyền nhiễm mà chích ngừa không đủ dung lượng hay bệnh nhân sắp chết lại uống nhầm phải thuốc giả. Ngoài ra còn một vấn đề nữa, tôi xin nhắc nhở, một khi chấp nhận hòa giải hòa hợp với công sản là người Việt hải ngoại đã mặc nhiên hợp thức hóa những gì mà đảng cộng sản cướp của người dân, hợp thức hóa những gia tài khổng lồ của chúng đang cất giấu trên thế giới và nhất là hợp thức hóa việc đảng cộng sản bán đất nhượng biển cũng như đồng lõa với cộng sản chấp nhận vai trò nô lệ mà chúng đã thỏa thuận ngầm trao giang sơn tổ quốc vào tay Tàu cộng.

Thứ tư: Một số lớn du học sinh tiến bộ thuộc thành phần thầm lặng thường dành nhiều thời giờ lo việc học hành thi cử. Họ ngập ngừng và hạn chế trả lời những câu hỏi chính trị có liên quan đến vấn đề đất nước cũng như vai trò của đảng cộng sản tại Việt Nam. Nhưng một khi đã đặt tin tưởng vào người đối thoại thì họ bày tỏ tâm huyết một cách chân thành. Tôi đã hân hạnh ghi nhận những suy tư thầm kín và tấm lòng trăn trở của tuổi trẻ trước hiện tình đất nước, đồng thời tôi cũng lợi dụng cơ hội để chia sẻ những khó khăn với giới trẻ có tâm hồn và trí óc, biết suy nghĩ đến tương lai đất nước. Trong nhiều lần tiếp xúc, họ đặt ngược lại vài câu hỏi làm cho chúng ta là những người Việt hải ngoại cần phải suy nghĩ. Nhân dịp nầy xin nêu lên hai vấn đề chính do một số du học sinh có tinh thần quốc gia đã đưa ra để hỏi tôi :

1. Nếu trong tương lai một cuộc ‘đổi đời’ sẽ trở lại trên đất nước Việt Nam thì những cuộc trả thù của thành phần bị áp bức đối với cán bộ công nhân viên nhà nước có xảy ra không ?

2. Có hay không một cuộc tắm máu sẽ đến đối các thành phần lãnh đạo nòng cốt của đảng cộng sản sau khi bị hạ bệ ?

Tôi đã đắn đo rất nhiều về hai câu hỏi trên và tạm trả lời với anh chị em du học sinh như sau: Tôi không phải là một nhà lãnh tụ, cũng hoàn toàn không có tham vọng chính trị mà chỉ là một người tranh đấu thuần túy thật nhỏ bé trong lòng cộng đồng người Việt tự do hải ngoại. Một khi chế độ cộng sản bị giải thể xong xuôi thì tôi xem như hết bổn phận của một người công dân Việt Nam, do đó tôi không đủ tư cách để trả lời một cách chính thức hai câu hỏi trên. Tuy nhiên với tình cảm của một người dân Miền Nam, một người có tín ngưỡng và nhất là một người đã hấp thụ nền văn hóa nhân bản tự do, thì tôi nghĩ rằng, những gì tôi nói cũng có thể phản ảnh một phần nào chủ trương nhân đạo của những lãnh tụ trong khối tự do.

Câu trả lời thứ nhất: Trong lúc tranh tối tranh sáng cuộc của một chiến vừa chấm dứt thì làm sao tránh được những xáo trộn nho nhỏ có tính cách địa phương và bồng bột nhất thời của những người bất mãn đã hàng chục năm qua. Nếu sự việc có xảy ra, thì đó là chuyện cá nhân, nhất thời và ân oán cá nhân. Nhưng theo tôi thì không có gì trầm trọng, vì bất cứ nhà lãnh đạo nào cũng quan tâm đến những vấn đề phức tạp nầy ngay trong thời điểm hậu chiến. Chắc chắn họ đã sẵn sàng những chương trình ngắn, trung cũng như dài hạn để bảo vệ người ‘thua trận’ và vãn hồi an ninh trật tự theo tinh thần nhân đạo và đầy tình người của người dân miền Nam. Tôi nhắc lại, người quốc gia không có tâm địa căm hờn và trả thù dai dẳng như người cộng sản mà các anh chị em là những người đã chứng kiến tận mắt từ trên ba chục năm nay !

Câu trả lời thứ hai: Một cuộc tắm máu chắc chắn không bao giờ xảy ra. Những cuộc trả thù tràng giang đại hải trong nhà tù cũng như các trại tập trung cũng không xảy ra, mà có thể vì an ninh trật tự nhất thời, những kẻ đứng đầu chế độ sẽ bị cô lập trong tinh thần nhân đạo và trong một thời gian ngắn. Rồi sau đó, tùy theo tội phạm mà các cơ quan tư pháp sẽ công minh phán xét. Tôi nghĩ rằng, hành động cô lập nầy chỉ dành cho một số nhỏ đứng đầu trong giới lãnh đạo đảng mà thôi và sẽ không có chuyện đưa hàng chục triệu người đã phục vụ dưới chế độ cộng sản vào tù, vào trại cải tạo lâu dài như Hà Nội đã áp dụng cho các thành phần quân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và gia đình của họ. Lịch sử đã chứng minh cho thấy sau khi Liên Bang Sô Viết cũng như các xứ cộng sản Đông Âu tan rã, người ta chưa bao giờ thấy một cuộc tắm máu lớn nhỏ nào xảy ra dưới các quốc gia vừa ‘đổi đời’ từ cộng sản qua tự do. Đó chính là tình người và lòng nhân đạo của những ai đã hấp thụ một nền văn hóa nhân bản. .

E. Du học sinh với tương lai đất nước

Qua tiếp xúc với một số du học sinh tiến bộ, tôi thông cảm nỗi suy tư thầm kín cũng như những xót xa ngấm ngầm của giới trẻ Việt Nam trong nước hiện nay. Dù họ được sinh ra và trưởng thành dưới chế độ cộng sản, bị bưng bít ngăn cách thông tin với thế giới bên ngoài, bị nhồi sọ bởi một nền văn hóa đỏ cộng sản, nhưng hình ảnh đau lòng của xã hội cũng như những sai lầm trầm trọng của chế độ đã khơi động con tim và trí óc giới trẻ. Từ đó những bất mãn đã lớn dần và bộc phát mạnh mẽ qua sự chống đối của giới trẻ Việt Nam sau vụ Hoàng Sa Trường Sa và Bauxite. Một điều cũng nên ghi nhận rằng, ngay cả con cháu cán bộ, ngày nay cũng nhận biết những sai lầm trầm trọng do ông cha họ gây ra, nhất là ngay sau khi bộ mặt gian dối của đảng cộng sản rơi xuống và thần tượng già Hồ bị sụp đổ.

Tôi không đề cập đến các du học sinh thuộc thành phần con ông cháu cha mà hy vọng vào giới trẻ Việt Nam, nhất là những người đã có cơ hội du học ở nước ngoài, là những anh chị em thông minh, hiếu học, có tình người, biết yêu tổ quốc và nghĩ đến tương lai dân tộc. Các anh chị em nầy đã sống trong một thế giới tự do và đã hưởng một thời gian hoàn toàn cởi mở từ tư tưởng, lời nói đến hành động. Vậy họ đã biết đâu là tự do, đâu là quyền lợi của người dân và đâu là bổn phận và trách nhiệm của giới cầm quyền. Chính họ đã chứng kiến cảnh sát Tây phương bảo vệ cho dân chúng xuống đường biểu tình chống chính phủ hằng ngày. Tôi tin các anh chị em du học ở Pháp đã nghe vấn đề thanh liên của giới cầm quyền, như chuyện phu nhân tổng thống Nam Phi (xứ đứng đầu thế giới về sản xuất kim cương) biếu một cách công khai cho bà cựu tổng thống Pháp một viên hột xoàn nhỏ tí xíu (hình như trên dưới một cara gì đó, tôi không nhớ rõ) trong một chuyến công du. Sự việc chỉ đơn giản như vậy nhưng đã gây ồn ào từ cơ quan lập pháp đến hành pháp buộc vị cựu tổng thống phải lên tiếng ! Tôi tin các anh chị em du học tại Mỹ cũng biết, một cựu tổng thống chỉ vì nghe lén điện thoại mà phải tự động từ chức cũng như một vị cựu tổng thống trẻ ham vui ‘dung giăng dung dẻ’ một chút với cô thư ký riêng mà chiếc ghế quyền lực phải sụp đổ sau đó. Tôi dài dòng như vậy để các bạn du học sinh thử nhìn lại và suy nghĩ những gì đã nghe, đã biết để so sánh với tội trạng ngập đầu của tập đoàn lãnh đạo Việt Nam từ địa phương lên đến trung ương !

Tôi hy vọng, dù trong một vài ba năm ở nước ngoài nhưng cũng đủ thời gian để anh chị em hồi tâm đánh thức con tim và trí óc của mình, vì giới trẻ Việt Nam, mà anh chị em du học sinh là thành phần nòng cốt, là rường cột của nước nhà thì phải biết suy nghĩ và hành động cho kịp thời.

Như vậy, đất nước sẽ nằm trong tay anh chị em thì tương lai Việt Nam phải do các anh chị em định đoạt. Thế hệ đi trước đã sai lầm đưa đất nước vào tình trạng yếu kém lạc hậu và trở thành nô lệ của một ngoại bang thâm hiểm, tàn bạo và độc ác…Mai đây khi đất nước rơi vào tay các bạn thì Việt Nam chỉ là một gia tài rách nát, nợ nầm chồng chất, đạo đức vắng bóng, văn hóa sa đoạ, tình người thui chột thì dù có tài giỏi đến đâu, các bạn cũng khó vực dậy một cổ xe đã mục nát đang nằm dưới đáy của vực thẳm. Vậy ngay từ bây giờ, cũng chưa muộn đâu, các anh chị em hãy can đảm đứng lên xóa hết cái cũ và xây dựng cái mới, làm một cuộc cách mạng theo gương tiền nhân, là những anh hùng đã dựng nước và giữ nước trong suốt hàng chục thế kỷ qua.

Xin Ơn Trên và Hồn Thiêng Sông Núi phù hộ cho dân tộc và đất nước chúng ta.

Đinh Lâm Thanh
(31 tháng 08 năm 2009)

DÙNG TIỀN DÂN CỦNG CỐ ĐẢNG - Ngô Nhân Dụng

Ngô Nhân Dụng

Marx và Engels đã lên án đồng tiền, coi đó chỉ là một khí cụ để giai cấp thống trị tư bản bóc lột giai cấp vô sản bị trị. Cho đến thập niên 1970, nhiều người cộng sản ở Âu Châu vẫn còn nuôi giấc mộng loài người sẽ tiến tới một xã hội không cần đến tiền tệ. Khi đó, mọi người đều làm việc cho guồng máy sản xuất chung mà không cần lãnh lương. Mỗi khi ai có nhu cầu nào thì cứ việc tới các cửa hàng chung, lấy về nhà sử dụng (Un Monde sans Argent: Le Communisme; Paris, 1975).
Các đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam hiện nay trên lý thuyết vẫn theo chủ nghĩa Marx-Engels, nhưng họ học ngược lý thuyết của hai ông thầy. Bài học mà hai nhà tiên tri này dạy cho họ là: Ðồng tiền là một khí cụ để giai cấp thống trị bóc lột đám dân bị trị. Họ áp dụng ngay phương pháp này, để củng cố quyền lực và quyền lợi của quý ngài lãnh tụ đảng đang ngồi giữ các chức vụ trong guồng máy hành chánh và kinh tế.

Năm ngoái khi kinh tế thế giới rơi vào cơn khủng hoảng, chính phủ Bắc Kinh đã dùng 4,000 tỷ nhân dân tệ (khoảng 585 tỷ Mỹ kim, bằng 14% tổng sản lượng nội địa năm đó) gọi là để kích thích nhu cầu trong nền kinh tế, cũng giống như các kế hoạch kích thích ở các nước Âu Mỹ. Chương trình ở Trung Quốc bắt đầu từ Tháng Mười Một, năm 2008, đến nay đã đưa tới một hậu quả là nó làm trì hoãn việc cải tổ cơ cấu nền kinh tế, có khi còn quay chiều đi ngược lại. Vì số tiền trên được dùng nuôi nấng các doanh nghiệp nhà nuớc, tiêu tiền vào những việc phí phạm trong khi chèn ép các xí nghiệp tư nhân cho họ bị khó khăn hơn. Ở Trung Quốc thế nào thì Việt Nam chắc cũng không khác, vì ít khi thấy Hà Nội có sáng kiến nào khác với đường lối của Bắc Kinh. Chính các chuyên gia kinh tế ở Trung Quốc đã nêu lên nhưng hậu quả trên, chứ không phải do “các thế lực thù nghịch” nào cả.

Giáo Sư Vương Nhất Giang (Wang Yijiang) thuộc Viện Ðại Học Thương Mại Trường Giang (Cheung Kong), Bắc Kinh, nói rằng “Chương trình kích thích kinh tế đã khiến cho cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc càng mất cân bằng hơn.” Cảnh mất cân bằng trầm trọng hơn là số tiền kích thích được dồn cho các doanh nghiệp nhà nước, còn lãnh vực tư nhân bị bỏ rơi. Sau 30 năm cải cách kinh tế, đây là lần đầu tiên tỷ lệ hoạt động trong lãnh vực tư doanh giảm xuống thay vì tăng lên. Mà chính các xí nghiệp tư nhân cung cấp ba phần tư số công việc làm cho giới lao động Trung Quốc.

Ở các nước theo kinh tế thị trường, các ngân hàng chỉ cho vay khi thấy xí nghiệp xin vay có lời và dự án sử dụng tiền vay có triển vọng sinh lợi. Ở Trung Quốc thì ngược lại. Trong sáu tháng đầu năm 2009, các ngân hàng Trung Quốc đã đem một số tiền khổng lồ cho các xí nghiệp vay qua các món nợ mới: 7370 tỷ nhân dân tệ, gấp ba lần số nợ mới trong nửa đầu năm 2008, vượt cao hơn mục tiêu của cả năm. Ngân hàng NBP Paribas tính số nợ mới này lớn bằng 45% tổng sản lượng nội địa và nhận xét chưa có một hệ thống ngân hàng nước nào đã bơm nhiều tiền vào nền kinh tế như vậy.

Theo Royal Bank of Scotland thì các xí nghiệp vay được tiền rồi không dùng hết, đã đem 20% mua cổ phiếu và 30% dùng vào việc mua hoặc xây dựng nhà cửa mới, và các vụ đầu tư không sản xuất. Hai thị trường cổ phần và thị trường địa ốc lên cơn sốt báo động chính quyền Bắc Kinh, họ phải ra lệnh các ngân hàng “tốp” lại. Nhưng các quan chức lãnh đạo từ xí nghiệp đến ngân hàng đều đã có dịp bỏ túi rồi. Từ Tháng Mười Một năm ngoái đến đầu Tháng Bảy, giá chứng khoán đã tăng 64% trước khi tụt xuống 14% trong ba tuần lễ đầu Tháng Tám sau khi nghe tin lệnh ngưng cho vay.

Khi ngân hàng của đảng đem tiền cho các doanh nghiệp nhà nước do đảng kiểm soát, không những khiến cho các xí nghiệp tư nhân không thể cạnh tranh với xí nghiệp nhà nước; mà còn giúp các cán bộ có dịp tấn công bỏ tiền ra mua các xí nghiệp tư bị yếu để đưa chúng vào trong vòng kiềm tỏa của họ. Một vụ “tấn công” đang được cả nước Trung Hoa và giới kinh doanh nước ngoài chú ý là công ty Sắt Thép của tỉnh Sơn Ðông đang hiến giá mua công ty sắt thép tư Rizhao (Nhật Chiếu), đẩy người làm chủ nhiều cổ phần nhất của công ty tư này xuống hàng cổ đông thứ yếu.

Năm ngoái công ty Rizhao được ước tính trị giá 30 tỷ nguyên. Trong 6 tháng đầu năm nay Rizhao khai có lời 1.8 tỷ nguyên trong khi Sơn Ðông khai lỗ 1.3 tỷ. Nhưng nay Sơn Ðông đang đề nghị trả 16 tỷ nguyên để làm chủ 2 phần ba cổ phần trong Rizhao, phần còn lại để cho ông Ðỗ Song Hoa là chủ nhân đa số cũ, là người đã từng được xếp hạng giầu thứ nhì ở Trung Quốc. Ông Hoa đã tính kế “thoát xác” bằng cách chia một nửa quyền sở hữu cho một công ty ở Hồng Kông, do một thân nhân của ông Hồ Cẩm Ðào làm chủ; nhưng việc không xong.

Nếu cuộc tấn công này thành công, nội trong tuần tới sẽ biết, thì ông Ðỗ Song Hoa (Du ShuangHua) vẫn có thể coi là may mắn. Vì năm ngoái, người được mô tả là giầu nhất Trung Quốc đã biến mất một cách bí mật khiến các cổ phiếu của công ty Gome trên thị trường Hồng Kông phải ngưng mua bán, trước khi có tin của cảnh sát nói ông ta bị bắt về tội gian lận chứng khoán. Chủ nhân công ty Gome về điện khí và khí cụ điện tử là Hoàng Quang Dục (Huang GuangYu) có tội lớn nhất là đã làm ăn khá giả ngoài vòng kiểm soát của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Hiện tượng các doanh nghiệp nhà nước lấn bước và mua chiếm các xí nghiệp tư nhân được báo chí Trung Quốc gọi là “quốc tiến dân thoái,” (guo jin min tui). Chính phủ Bắc Kinh vẫn nói họ không hề có một chính sách bành trướng lãnh việc quốc doanh để lấn áp lãnh vực tư doanh. Nhưng nhân cơ hội kinh tế thế giới khủng hoảng và dùng các món tiền “kích thích” của nhà nước cộng sản, các xí nghiệp quốc doanh đang lấn chiếm quay ngược kim đồng hồ của chương trình tư nhân hóa đã thi hành từ thời Ðặng Tiểu Bình. Với số tiền khổng lồ mà các ngân hàng của đảng có thể đưa cho các xí nghiệp của đảng vay, các cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp nhà nuớc được cơ hội “vùng lên.” Những nhà tư doanh, là “lực lượng sản xuất tiên tiến” theo lối nói của đảng Cộng Sản, đã được mời gia nhập hàng ngũ đảng viên sau khi họ sửa cương lĩnh; nhưng vẫn chưa làm hài lòng giai cấp thống trị. Vì đại đa số các cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nuớc nằm trong nhưng “đại gia đình” của các lãnh tụ, họ chia nhau địa vị trong các xí nghiệp công lớn. Và họ biết chắc là họ không thể cạnh tranh với các xí nghiệp tư trên một sân banh bằng phẳng, dù các chủ nhân xí nghiệp tư đó có gia nhập đảng cộng sản cũng chẳng có lợi gì cho họ. Cho nên, nếu có dịp là họ dùng tiền của nhà nước, dùng quyền hành nhà nước trao cho, để làm nghiêng sân chơi về phía có lợi cho họ! Chương trình kích thích kinh tế là một cơ hội bằng vàng để “quốc tiến dân thoái.”

Nếu đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục con đường này, nền kinh tế cả nước sẽ bị níu kéo trở lại tình trạng kém hiệu năng; vì trong 30 năm qua các xí nghiệp tư là khu vực hoạt động mạnh nhất, tạo nên nhiều công việc làm cho dân nhất.

Một chuyên gia kinh tế cao cấp trong chính quyền Bắc Kinh cũng lên tiếng cảnh cáo việc sử dụng tiền kích thích kinh tế không đúng. Ông Dư Vĩnh Ðịnh (Yu YongDing), từng làm trong Ủy Ban Tiền Tệ của Ngân Hàng Nhân Dân (tức ngân hàng trung ương Trung Quốc) viết trên nhật báo Financial Times trong tuần này, báo động rằng chương trình kích thích kinh tế đang kéo dài tình trạng thiếu cân bằng trong cơ cấu kinh tế quốc gia. Sự phát triển trong các năm qua dựa quá nhiều trên số gia tăng đầu tư vào cơ sở sản xuất tạo nên cảnh dư thừa không dùng tới, nay chuyển sang hạ tầng cơ sở mà vẫn không được đưa vào lãnh vực tiêu thụ. Có 89% số tiền kích thích đem dùng trong các dự án hạ tầng cơ sở (xa lộ, thiết lộ, phi trường) mà chỉ có 8% được dùng kích thích tiêu thụ. Trong khi đó, số tiêu thụ ở Trung Quốc đã quá thấp so với các hoạt động kinh tế khác. Người dân tiêu thụ bị hy sinh cho các doanh nghiệp nhà nước dùng tiền đi vay vào các dự án không chắc có lời, mà không biết trong tương lai có thể trả nợ được hay không.

Ông Dư Vĩnh Ðịnh viết, “Tiền kích thích đã làm cho tình trạng dư thừa khả năng sản xuất đã nghiêm trọng càng trầm trọng hơn, trong khi tiền đem cho lại được dùng để thổi cho quả bong bóng chứng khoán phồng lên nguy hiểm.” Ông cho biết số tiền đầu tư vào cơ sở và thiết bị đã tăng 36% so với năm ngoái, và đưa tỷ lệ của hoạt động đầu tư lên 50% tổng số GDP. Trong khi đó, người dân Trung Hoa tạo ra được 100 đồng của cải thì chỉ được tiêu thụ 35 đồng, tỷ lệ thấp nhất trong số các nền kinh tế lớn, so với ở Mỹ là 70 đồng hay ở Ðức là 60 đồng.

Ở nước Mỹ, khi chính quyền Obama đưa ra chương trình kích thích kinh tế gần 800 tỷ Mỹ kim, nhiều đại biểu Quốc Hội đối lập đã chỉ trích rằng nhiều món tiền trong số đó được đem vào những hoạt động kích thích dân tiêu thụ mà chỉ nhắm thực hiện nhưng chính sách của đảng Dân Chủ, thí dụ như nghiên cứu nguồn năng lượng mới và bảo vệ môi trường. Nhưng có một chính phủ Mỹ nào dám dùng tiền của dân đóng thuế để kích thích riêng cho các cán bộ kinh tế của mình có thể làm giầu thêm. Vì một nước có báo chí tự do và Quốc Hội độc lập không cho phép chính quyền làm như vậy.

Ở Trung Quốc thì rõ ràng nhưng số tiền do chính phủ đem kích thích kinh tế chỉ nhắm làm giầu cho các cán bộ quốc doanh. Ở Trung Quốc không ai đặt câu hỏi tại sao lại dùng tiền đóng thuế của dân như vậy. Vì không ai dám nói đó là tiền của dân. Nhiều người nghĩ đó là tiền của đảng Cộng Sản, họ muốn làm gì thì làm! Phải có các nhà kinh tế phân tích cho người dân thấy tiền đóng thuế của họ được đem dùng cho ai hưởng!

Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã làm đúng việc mà Marx và Engels kết tội giai cấp tư bản khi xưa. Là dùng tiền bóc lột của dân lao động để củng cố địa vị và quyền lợi giai cấp thống trị! Cộng Sản Việt Nam cũng đang theo từng bước chính sách của đảng đàn anh, nhưng chưa thấy trong nước có tờ báo nào dám nói lên nhưng lời cảnh cáo như các ông Dư Vĩnh Ðịnh và Vương Nhất Giang đã làm! Nếu Marx và Engels sống trong thời này chắc hẳn họ phải viết một bộ sách “Tư Bản Nhà Nước Ðộc Quyền” để hô hào người dân lao động đứng lên làm cách mạng!

Ngô Nhân Dụng