Saturday, June 28, 2014

Australian of Vietnamese origin on death row in Vietnam


By AAP. SBS

A Vietnamese-born Australian citizen has reportedly been sentenced to death in Vietnam for attempting to smuggle four kilos of heroin in his luggage.

An Australian of Vietnamese origin has been sentenced to death in Vietnam for possessing more than four kilos of heroin.

Pham Trung Dung was arrested in May last year when customs officials reportedly found the heroin in his luggage as he was boarding a flight from Ho Chi Minh City to Australia.

Dung has claimed he was hired by an unidentified man to carry the heroin and was paid $40,000.

Possessing or trafficking 100 grams of heroin is punishable by death in Vietnam.

A spokesperson for the Department of Foreign Affairs told SBS the government is offering assistance to Dung.

“We understand that he has the right of appeal. Whether he decides to do so is a matter for the man and his lawyers.

“The Australian Consulate-General in Ho Chi Minh City is closely monitoring the case and providing all possible assistance.”

Foreign Minister Julie Bishop also confirmed that Australian authorities are working on Dung's case, but did not further elaborate.

“I don’t want to do anything that would harm the work that is being done by our diplomats," News Corp quoted her as saying.




Friday, June 27, 2014

Độc ác và tàn nhẫn?

Màn kịch độc ác và tàn nhẫn?
JB Nguyen Huu Vinh

Thái độ và hành động đáng ngờ

Trong con mắt của những người dân Việt Nam mộc mạc vốn thừa mứa lòng tin, người ta sẽ nghĩ rằng sau cuộc khốc liệt 1979 trên toàn tuyến biên giới, Việt Nam thấm đòn đau từ anh bạn láng giềng to xác quen ăn hiếp và bắt nạt thì tưởng như sẽ không bao giờ có thể ngoái đầu quay lại với những kẻ thù tàn bạo, quay quắt mà chính họ đã nguyền rủa. Thế nhưng cả dân tộc không ngờ, cả dân tộc đã bị dồn vào một khúc quanh đau đớn nhất của lịch sử: Giai đoạn nô lệ ngoại bang.

Theo dõi thái độ và cách hành động của nhà cầm quyền Việt Nam mấy năm nay với chủ đề lãnh thổ của Tổ Quốc, nhất là thái độ với bọn bá quyền cướp nước, có lúc thăng, lúc trầm, nhưng tất cả đều nhất quán và không có mấy thay đổi. Đường lối, cách nghĩ của đảng CS vẫn thế, tất cả đều đi đúng một định hướng đã vạch sẵn: Lấy thù làm bạn, hèn với giặc, ác với dân.

Thông thường, một chính phủ, một nhà nước, một đảng lãnh đạo xã hội, luôn lấy sự an nguy của quốc gia, an ninh của dân chúng, bảo toàn lãnh thổ của đất nước làm trọng, mọi nhân tài, vật lực đều được ưu tiên tập trung cho những nhiệm vụ chính yếu đó. Thế nhưng, riêng ở Việt Nam, mọi điều đã được thực hiện ngược lại.

Nhà nước không dùng quân đội để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ nhân dân mà người ta quy định rằng trước hết, quân đội phải bảo vệ Đảng. Rồi mặc cho dân bị kẻ thù, bị ngoại bang giết chết trên đất nước, quân đội được huy động đi cướp đất của dân và luyện tập để “chống diễn biến hòa bình”. Thậm chí, người đứng đầu quân đội luôn miệng gọi kẻ thù là đồng chí, tỏ rõ sự hàm ơn nặng nề kẻ thù của đất nước, ngay cả khi kẻ thù đã và đang xâm chiếm lãnh thổ.

Nhà nước bơm phình lực lượng công an không với mục đích phục vụ nhân dân, mà họ huỵch toẹt thách thức là “còn đảng, còn mình”. Hẳn nhiên họ không nhắc lực lượng này rằng người nuôi họ là dân. Lực lượng này được huy động đàn áp, canh giữ, bắt bớ và gây sự với những người có mầm mống tư tưởng yêu nước. nhà nước bỏ tù những tiếng nói can đảm, dám thể hiện lòng yêu nước, thương nòi của mình.

Họ tạo ra một thế hệ vô cảm với những điều thiêng liêng nhất, ngộ độc thông tin nặng nề nhất, thậm chí dùng đám hồng vệ binh đó đi đàn áp, khủng bố những người yêu nước.

Kết quả là lòng yêu nước bị dập tắt, tinh thần yêu nước bị đánh tan tác và hạ xuống đến mức thấp chưa từng có.

Hoảng loạn, lúng túng

Có thể nói, kể từ khi người Cộng sản Việt Nam cướp quyền lãnh đạo đất nước này đến nay, cái gọi là “độc lập” đúng nghĩa chưa bao giờ xuất hiện. Việt Nam luôn kêu gào “độc lập, tự do” nhưng thực tế thì hết đu bám thế lực này lại sang bám thế lực khác.

Nếu như sau Tháng 8/1945 trở đi, khối cộng sản nẩy nở, sinh sôi, những người cộng sản Việt Nam tự nguyện làm một bộ phận “tiền tiêu, tuyến đầu” cho CNCS để tiến hành cuộc chiến Nam – Bắc đẫm máu vì ý thức hệ. Khi đó, trừ vài nước “cộng sản anh em”, còn tất cả đều là “bè lũ đế quốc và bọn phản động, chó săn, sen đầm quốc tế”. Thì đến khi nội bộ khối Cộng sản lục đục chia rẽ nặng nề, những người Cộng sản Việt Nam nhanh chóng tách khỏi anh bạn Trung Cộng để tìm đến Liên Xô là “thành trì của CNXH”. Khi đó, hệ thống truyền thông Việt Nam đã không tiếc bất cứ một lời lẽ, ngôn từ nào dù bẩn thỉu, xấu xa nhất lên án anh chàng Trung Cộng Đại hán đã chệch hướng, lạc đường, phản bội lại “Mác – Lênin chân chính”.

Thế rồi, cuộc chiến 1979 trên biên giới Việt – Trung đã thể hiện sự cạn nghĩa, ráo tình và sự tráo trở của những người cộng sản ra sao. Tưởng từ nay, cái gọi là “môi hở răng lạnh” sẽ không bao giờ được nhắc tới, cái gọi là “anh em, hữu nghị, láng giềng” đối với Trung Cộng sẽ vĩnh viễn biến mất trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội khi vẫn còn người Cộng sản Việt Nam cai trị đất nước.

Nhưng, trớ trêu thay, vật đổi sao dời. Những biến động của Đông Âu về sự sụp đổ hàng loạt khối cộng sản mà không một thế lực nào đỡ nổi như một quy luật. Cái bức tường, cột trụ mà những người cộng sản Việt Nam tưởng rằng luôn bền vững, chắc chắn bỗng chốc sụp xuống nhanh chóng không ngờ. Thế là từ đó, bỗng chốc cái thần thái độc lập, tự chủ và sự tự tin “bách chiến, bách thắng” của những người Cộng sản Việt Nam nhanh chóng bay biến.

Và họ hoảng loạn thật sự.

Theo đúng nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lenin thì “giai cấp thống trị không bao giờ để mất quyền thống trị của mình, nếu không có bạo lực cách mạng”. Vì thế, họ đã ra sức để bằng mọi cách củng cố, bám giữ lấy chiếc ghế cai trị của mình.

Một trong những cách đó là đổi thù thành bạn, tất nhiên chỉ là bạn của Đảng, còn với cả đất nước này thì kẻ xâm lược truyền kiếp kia chẳng bao giờ thay đổi bản chất và quan hệ. Rồi Hội nghị Thành Đô, (một hành động chính trị lén lút mới được bạch hóa gần đây) đã diễn ra trong hoàn cảnh đó.

Kể từ đó, đất nước ta bước vào một ngã rẽ đầy sự tăm tối, từng bước, từng bước đi vào vòng nô lệ theo “đúng quy trình”.

Hành động có hệ thống và màn diễn đẫm máu

Cho đến gần đây, nhà nước Việt Nam mới công nhận một số điều mà người dân đã bàn tán bao năm nay về quan hệ Việt – Trung. Năm 1958, Phạm Văn Đồng trên cương vị Thủ tướng có công hàm gửi Trung Cộng, công nhận Tuyên bố về lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trong đó bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà Trung Cộng gọi là Tây Sa và Nam Sa.

Khi bọn bá quyền Trung Cộng dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, chính phủ Bắc Việt đã không hề mở miệng hé răng.

Năm 1988, bọn bá quyền Trung Cộng dùng quân đội tiếp tục dùng vũ lực chiếm đóng một phần Quần đảo Trường Sa, hàng loạt chiến sĩ bỏ mạng trên biển, người dân Việt Nam không được thông tin về sự hy sinh của họ. Việc mất một số đảo của Tổ Quốc được im lặng như một món quà cho bọn bành trướng để để đi đến Hội nghị Thành Đô sau đó.

Ngày 3-4/9/1990, Hội nghị Thành Đô bí mật diễn ra, mở đầu một thời kỳ đau đớn cho đất nước. Những người cộng sản đã mua bán, đổi chác sinh mệnh dân tộc bằng hội nghị bí mật này.

Năm 1999, Hiệp định Biên giới Việt Trung mờ ám được bí mật ký kết. Tất cả những ai lưu tâm, tò mò đến bản hiệp định này đều trở thành thế lực thù địch của Đảng và nhà nước Cộng sản. Nhiều người đã nếm mùi tù đày, lao lý bởi cái Hiệp định này. Kết quả là hàng loạt vấn đề mất đất, mất lãnh thổ trên biên giới đã không được giải đáp thỏa đáng.

Từ năm 2000 trở lại đây, Trung Cộng gia tăng các hành động cướp bóc, lấn chiếm ngang ngược trên biển, Đảng và nhà nước Việt Nam có những hành động “hèn hạ vĩ đại” trước quân giặc ngày càng hung hăng. Trên đất liền, những nơi trọng yếu, các công trình trọng điểm đều có mặt người Trung Quốc.

Đặc biệt là việc gia tăng bắt bớ, giam cầm, đàn áp trắng trợn những người yêu nước, thương nòi. Có lẽ trong lịch sử dân tộc ta, chưa có giai đoạn nào những người yêu nước phải đau đớn như giai đoạn hiện nay.

Dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, tài tình và sáng suốt” của đảng Cộng sản Việt Nam, sau 70 năm, đất nước Việt Nam đã và đang dần dần lún sâu vào cơn khủng hoảng, khốn đốn về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa… Vị thế của đảng Cộng sản chìm sâu trong những cơn oán thán, trong những câu chuyện bi, hài của người dân và qua từng hành động khó hiểu, bất nhất, lời nói ngô nghê của lãnh đạo, của hàng ngũ quan chức. Vị thế của Việt Nam trên con mắt quốc tế sa sút đến thảm hại.

Đúng lúc đó, anh bạn vàng khổng lồ của Đảng gia tăng những hành động xâm lăng, cướp bóc trắng trợn lãnh thổ Việt Nam.

Máu dân Việt đã đổ, mạng người dân đã mấ trên chính lãnh thổ mình. Mưu đồ xâm lược bấy lâu nay đã thêm một bước được thể hiện một cách trắng trợn và ngang ngược, bất chấp mọi lý lẽ, mọi thứ “tình hữu nghị” được bôi trát bằng bộ mặt giả nhân giả nghĩa bấy lâu nay. Nhà cầm quyền Trung Cộng đã từng bước thể hiện bản chất cướp bóc hung bạo là sản phẩm kết hợp giữa chủ nghĩa bành trướng đầy tham vọng và sự tàn bạo không giới hạn của Chủ nghĩa Cộng sản trong chiến lược xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam.

Tưởng như vậy là giới hạn cuối cùng, một đảng luôn tự ca ngợi mình là “thiên tài, là vô địch là tinh hoa của dân tộc, là đội quân tiên phong của đất nước” đã bước nốt những bước cuối cùng của sự bi đát và sẽ tỉnh ngộ để sớm từ bỏ cái tư tưởng hão huyền và hãi hùng Mác – Lênin để trở về phục vụ nhân dân và đất nước.

Nhưng không.

Sau khi những hành động xâm lược của Trung Cộng bằng giàn khoan và tàu chiến trên biển, người ta thấy gì?

Những cuộc biểu tình yêu nước trên cả đất nước bừng lên, để rồi bị dẹp tan với những lý do rất Chí Phèo, người yêu nước lại tiếp tục ngậm ngùi uất hận.

Tại Philippines ông tưởng thú nói vài câu mạnh mẽ, thì lập tức tại Shangri-La Bộ Trưởng Quốc phòng dội ngay một giáo nước lạnh vào mặt quan khách toàn thế giới và nhất là 90 triệu người dân Việt Nam, bằng những lập luận ngô nghê khi gửi thông điệp đến kẻ thù xin “hữu nghị”. Không chỉ là đập thẳng vào miệng Thủ tướng mà thể hiện thái độ của một đội quân “bách chiến, bách thắng” hiện nay đang sẵn sàng chiến đấu ở mức độ nào.

Trước một kẻ thù hung hãn, đầy vũ khí trong tay và sự tàn bạo thể hiện trong từng hành động trên thực tế, việc một Bộ Trưởng Quốc phòng nêu quyết tâm “không để xung đột xảy ra’ chỉ có thể coi là hành động bó gối xin hàng. Ngay cả hàng mấy chục cuộc điện thoại gọi sang Trung Cộng không thèm trả lời mà đòi “hữu nghị” thì chưa rõ hệ thống thần kinh của quan chức Việt Nam đã đến tình trạng nào?

Ông Tổng Bí thư Đảng, người nắm chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương thì lặn mất tăm, đến mức người dân phải nhắn tin tìm kiếm trên mạng. Trong khi cả hệ thống cầm quyền, công an luôn miệng rằng “đã có đảng và nhà nước lo” thì giờ lo đến đâu không ai được biết? Nhưng khi ông xuất hiện thì chỉ bàn về “Văn hóa”. Thật tiếc, có lẽ cái văn hóa mà ông bàn đến không có bao gồm vấn đề ứng xử của kẻ có trách nhiệm như thế nào?

Nhưng có những điều lạ xuất hiện hiện nay:

Báo chí sau bao năm bị cấm ngặt không được đụng tới biển đảo, nay mở hết công suất về biển đảo, góp tiền, góp gạo cho Trường Sa… hết chương trình này đến chương trình khác, cứ như xưa nay Việt Nam chưa bao giờ tồn tại, nay mới xuất hiện thêm biển và đảo vậy.

Quân đội đã thề nguyền là sẽ không bao giờ động binh với anh bạn vàng của đảng để giữ tình hữu nghị. Ông Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng chỉ biết lẩm bẩm: “Anh là ai? Sao vật ngửa thuyền tôi ra” và vẫn là “Tình hữu nghị Việt – Trung bền vững đời đời”

Nhưng trên biển với lúc nhúc súng đạn kẻ thù, tàu chiến nườm nượp, đảng và nhà nước kêu gọi đẩy công dân tay không ra bám biển, giữ đảo. Thế là bao mạng người lại nằm xuống biển khơi.

Thật đau đớn và hài hước.

Những sự tréo ngoe đó đã nói lên điều gì? Tại sao trước một kẻ thù hung hãn với ý đồ xâm lược rõ ràng, bộ máy CSVN lại hành động khi trống đánh xuôi thì lập tức có kèn thổi ngược?

Điều đó chỉ có thể giải thích một điều cần giấu kín. Rằng khi tất cả biển đảo của Việt Nam đã rơi vào tay giặc theo “đúng qui trình”, thì nhà nước Việt Nam vẫn vô tội trước mắt người dân, đã “làm hết khả năng mình, đã phản đối nhưng kẻ thù quá mạnh, quá nguy hiểm nên lực bất tòng tâm”. Nghĩa là lỗi không nằm ở nhà nước mà nằm trong tay nhân dân và kẻ thù. Và để an dân, thì nhà nước lại học ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam mà rằng: “Đời chúng ta chưa đòi được thì đời con đời cháu chúng ta sẽ đòi cho bằng được”.

Và cứ vậy, người dân cứ phải chấp nhận tính mạng bị đe dọa, Tổ quốc phải chấp nhận mất biển đảo vào tay giặc, dân tộc chấp nhận một giai đoạn nô lệ kiểu mới.

Và màn diễn sẽ kết thúc ở đó còn Đảng thì vẫn quang vinh để kiên định con đường đi lên CNXH với người anh em 16 chữ vàng và 4 tốt.

Đó là màn diễn quá độc ác và tàn nhẫn đối với nhân dân.

J.B Nguyễn Hữu Vinh


Những tên điên của thế kỷ!

Lãnh đạo Cộng sản: những tên điên của thế kỷ!
Ngoc Nhi Nguyen

Zana, 1 phụ nữ Nga mà người ta tin là nửa đười ươi nửa người, sống hoang dã trong rừng, mình mẩy đầy lông và rất cao lớn, rất khỏe. Bà ta đã bị bắt đem về làng và được dùng để làm những công việc nặng vì có sức khỏe đặc biệt. Bà giao cấu với người và đẻ ra 4 đứa con, đứa nào cũng cao lớn và có sức khỏe như bà.

Khi nghe câu chuyện này, Stalin đã nảy ra ý định sẽ thành lập 1 quân đội toàn bằng người lai giống với đười ươi. Một quân đội như vậy sẽ rất khỏe mạnh, có sức kinh người, không biết đau, không biết sợ và đặc biệt là tuyệt đối trung thành. Với 1 quân đội như vậy Stalin sẽ dễ dàng đánh chiếm cả thế giới, biến cả thế giới thành cộng sản.

Một thế giới đại đồng mà tất cả đều theo cộng sản là giấc mơ của mỗi lãnh tụ CS, từ Lenin đến Stalin, đến Mao và cả Hồ Chí Minh.

Một người bình thường khi nghĩ đến việc tạo ra 1 loại người lai khỉ để làm quân đội phục vụ cho mình thì sẽ thấy kinh hoàng ớn lạnh, nhưng với lãnh đạo CS thì đây là điều rất tốt. Họ không có đạo đức, không có đức tin, không bị bất cứ 1 điều gì ràng buộc, họ sẵn sàng làm tất cả để đạt được mục đích.

Năm 1926 Stalin cấp cho giáo sư Ilya Ivanov, chuyên gia về sinh sản của súc vật, 1 món tiền khổng lồ là 120 000 đô Mỹ, để chế tạo cho Stalin 1 loại người mới. “ Loại người này phải to lớn, khỏe mạnh, không dễ bệnh hoạn, dễ nuôi, chịu ăn thức ăn rẻ tiền và không biết đau “ Stalin ra lệnh cho Ivanov. Đồng thời Stalin cho xây 1 trang trại ở George, để chuẩn bị nuôi dạy cho loại người này thành quân lính trung thành cho mình.

Ngoài ra Stalin cũng tuyên bố, thí nghiệm này thành công thì Stalin sẽ chứng minh cho nhà thờ Thiên Chúa Giáo thấy rằng hắn mới là “đức chúa trời”, vì hắn có thể tạo ra 1 loài người mới!

Giáo sư Ilya Ivanov sang Châu Phi và thực hành nhiều thí nghiệm cấy tinh trùng người vào những con đười ươi cái. Nhưng thí nghiệm không thành. Ông bèn trở về Nga và thực hành thí nghiệm cấy tinh trùng đười ươi vào tử cung phụ nữ Nga! Vô cùng may mắn là ông ta cũng không thành công.

Sau 2 năm Ivanov vẫn thất bại trong thí nghiệm của mình khiến Stalin nổi giận. Stalin bèn chụp mũ cho ông giáo sư này là có âm mưu phản quốc, ra lệnh bắt và kết án tù 5 năm. Ilya Ivanov chết trong tù vì tai biến mạch máu não.

Đến năm 2005, một chuyên gia khoa học Nga tìm tòi trong các hồ sơ mật của bộ chính trị Nga mới tìm thấy tài liệu này và đem công bố cho thế giới biết.

Lãnh tụ CS, tên nào cũng điên và tàn ác như nhau. Chúng coi con người như cỏ rác và coi người dân không hơn súc vật, chỉ là công cụ cho chúng sử dụng để đạt mục đích ghê tởm và khùng điên của chúng.

Chủ nghĩa CS là cơn ác mộng có thật của nhân loại!
Khốn nạn cho dân tộc VN phải chịu cái nạn này!


Cái chết của tên đồ tể Stalin

Stalin là 1 người vô cùng tàn bạo. Lúc còn tại vị Stalin đã ra lệnh giết hàng chục triệu người Nga, trong đó bao gồm cả người thân và đồng chí trong đảng CS. Tất cả những người thân cận bên cạnh Stalin đều sợ hãi và căm ghét ông, nhưng không ai dám nói ra hay phản kháng.

Vào đầu năm 1953, sức khỏe Stalin sút kém, ông ta bị 1 số tai biến mạch máu nhỏ, khiến cho trí nhớ bị ảnh hưởng và làm tánh tình càng cau có, khó chịu hơn. Stalin cũng sinh bệnh khó ngủ, nên thường gọi các đồng chí thân cận như Malenkov, Beria, Bulganin và Khrushchev vào gặp nói chuyện và ăn uống đến sáng.

Ngày 28 tháng 02 1953, Stalin cũng thức xem phim đến sáng rồi về phòng, sau khi ra lệnh không ai được quấy rầy. Sáng hôm sau không thấy ông ta lên tiếng hay thức dậy nhưng ai cũng sợ không dám gõ cửa. Mãi đến 10 giờ tối 1 người cận vệ mới liều đẩy cửa vào thì thấy Stalin té nằm dưới đất trên vũng nước tiểu. Người cận vệ quá sợ không dám làm gì hết nên chạy đi gọi bộ trưỏng bộ công an. Ông này cũng sợ quá bèn gọi Beria. Beria cũng không dám quyết định 1 mình nên gọi Malenkov, Bulganin và Krushchev, khi 4 người đến được thì Stalin vẫn nằm dưới đất, á khẩu không nói được.

Bốn đồng chí tốt này mặc kệ cho Stalin nằm đấy, 1 là họ quá căm ghét nên muốn hành hạ lúc sắp chết cho bõ ghét, 2 là họ sợ trách nhiệm và 3 là họ bận lo phân chia quyền lực với nhau. Mãi đến sáng ngày hôm sau bác sĩ mới được gọi và Stalin mới được khiêng đặt lên ghế.

Các bác sĩ đến thì Stalin trong tình trạng tỉnh mà không nói được, không cử động được, ói ra máu và không thở được. Nhưng các bác sĩ này hoàn toàn vô dụng vì bao nhiêu bác sĩ giỏi đã bị Stalin bỏ tù hết, nên họ không biết làm gì hơn là tuyên bố rằng Stalin bị tai biến mạch máu não rồi để mặc ông nằm đó.

Stalin được khiêng lên giường và vứt đấy, không được chữa trị gì cả. Ông ta đã phải chịu sự đau đớn kinh hoàng suốt 5 ngày và cuối cùng chết vào 21 giờ 50 ngày 05 tháng 03 1953. Con gái Stalin, kể lại rằng đó là những ngày khủng khiếp nhất, Stalin bị ngộp thở mắt trợn lên miệng khò khè mà không chết được, cứ vậy kéo dài đến 5 ngày. Trước lúc chết, Stalin còn cố đưa tay lên như muốn nói điều gì nhưng vẫn không nói được rồi tắt thở.

Nhưng sau đó thì các đồng chí của Stalin ướp xác ông thật đẹp, xây lăng thật lộng lẫy và cho dân chúng Liên Xô khóc thương vị cha già vĩ đại kính yêu. Dân miền Bắc VN cũng được cho khóc ké!

Và sự thực về cái chết của Stalin thì mãi đến 40 năm sau khi Liên Xô sụp đổ mới được Mỹ tìm ra trong các tài liệu mật và đem công bố cho dân Mỹ biết!


Ngoc Nhi Nguyên



VẤN ĐỀ TẨY NÃO - Thanh Thủy

VẤN ĐỀ TẨY NÃO
Thanh Thủy

Vấn đề tẩy não con người dường như có từ đời Tần Thủy Hoàng, một nhà vua độc tài và tàn bạo, trị vì nước Trung Quốc từ năm 221 trước Công nguyên cho đến năm 207 trước Công Nguyên thì sụp đổ. Tần Thủy Hoàng vì tẩy não giới nho sinh để bắt họ theo chế độ độc tài toàn trị của ông không được nên đem tất cả đi chôn sống và đốt sạch các sách vở của họ để mong diệt trừ mầm mống đối kháng.

Từ đó đến nay đã hơn hai ngàn năm, qua biết bao giai đoạn lịch sử, hầu như tất cả mọi người đều lên án sự tàn bạo vô nhân của Tần Thủy Hoàng, nhưng trớ trêu thay, từ khi đảng Cộng sản ra đời thì chánh sách của đảng nầy lại ca tụng Tần Thủy Hoàng và việc làm của họ càng tàn bạo, tinh vi và táo tợn hơn cả Tần Thủy Hoàng của hơn hai ngàn năm trước. Không nói đâu xa, cứ nhìn cách cai trị của bọn Việt cộng từ sau ngày 30/4/1975 cho đến nay thì đủ rõ:

1. Tẩy não đồng bào trong nước: Sau khi cướp được chính quyền, bọn chúng quyết tâm tẩy não ngay tức khắc những thành phần quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà, những đảng phái chính trị, những Tôn giáo bằng cách tập trung tất cả vào những nhà tù khổ sai mà chúng mệnh danh là trại học tập cải tạo, hiểu đúng nghĩa là Trại Tù Tẩy Não. Nhưng vì biết chắc rằng những thành phần nầy khó lòng tẩy não được theo như ý muốn, cho nên bọn chúng áp dụng một chính sách nhục hình, khổ sai với mục đích giết hết một cách âm thầm nơi rừng thiêng nước độc để có thể vừa che mắt thế gian, vừa để diệt trừ hậu hoạn. Trong khi đó thì bên ngoài xã hội, bọn chúng tổ chức rất nhiều toán thanh niên mang băng đỏ đi lục soát từng nhà xuất bản, từng nhà sách, từng những khu nhà trong xóm để tịch thâu tất cả những sách vở được xuất bản tại Miền Nam, kể cả sách giáo khoa để tập trung đốt sạch.

Riêng về thường dân không dính líu vào những thành phần trên, từ những người già cả cho đến thanh thiếu niên nam nữ, sau mỗi buổi chiều đều bị tập trung để Tẩy Não tại những khu phố để nghe cán bộ Cộng sản nhồi sọ về chủ nghĩa Cộng sản cho tới khuya mới được về nhà, trong thời gian bị nhồi sọ như thế, nếu người dân nào có lời phát biểu trái với đường lối của họ, nhẹ thì bị mời lên công an thẩm vấn bằng những hâm dọa đủ điều còn nặng thì đi tù biệt tăm.

Nếu đem so sánh thì bọn Việt cộng chẳng những áp dụng một chính sách giống hệt như chính sách của Tần Thủy Hoàng mà mức độ còn rộng lớn và quy mô hơn nhiều. Tần Thủy Hoàng bắt dân đi xây Vạn Lý Trường Thành, còn bọn Việt cộng thì lùa dân đi khai rừng hoang đầy bôm đạn chưa nổ, còn sót lại trong hơn suốt hai mươi năm chiến tranh tang tốc mà chúng gọi là “Vùng Kinh Tế Mới”.

Bọn chúng thừa hiểu rằng dân Miền Nam đã sống trong chế độ tự do dân chủ từ lâu, vì vậy khó có thể nhồi sọ một cách dễ dàng bằng lý thuyết Cộng sản, cho nên, chính sách của bọn chúng là giết chết hoặc đài ải người dân Miền Nam vào các vùng tử địa nhiều chừng nào thì bọn chúng đỡ lo chừng ấy. Biểu ngữ đã được bọn chúng dán khắp nơi trong các thành phố với hàng chữ: “Nhà sạch nhà, phố sạch phố mới xứng đáng mang tên Bác Hồ” đã chứng minh điều đó.

2. Sự hiện diện của đồng bào vượt biên, tị nạn Cộng sản ở hải ngoại: Thành phần nầy hiện diện trong cộng đồng quốc tế là cái gai nhọn khiến bọn chúng rất bực bội vì khó ăn nói trong lãnh vực ngoại giao, tuyên truyền, cho nên chính tên tưởng thú Việt cộng Phạm Văn Đồng năm xưa đã không ngần ngại thốt lên lời “hàng tôm, hàng cá” tại Pháp Quốc, đại khái quy chụp những người vượt biên là những hạng người đĩ điếm, xì ke, ma tuý, biếng nhác không muốn làm việc nên mới bỏ nước ra đi.

Khối người Việt tị nạn Cộng sản ở hải ngoại dần dà có cuộc sống ổn định, lớn mạnh và tổ chức thành các Cộng đồng, các tổ chức chánh trị, các tổ chức Tôn Giáo, lúc nào cũng lên tiếng vạch trần những hành vi bất chánh, vô nhân của chế độ Cộng sản Hà nội và tập đoàn cai tri tàn bạo của chúng.

3. Nguyên nhân trở thành đại gia: Nhận thấy rằng sự lớn mạnh của Người Việt Tị Nạn Cộng sản đã ảnh hưởng rất lớn đến công cuộc vận động quốc tế, qua đó, các nước Tây phương càng ngày càng thấy rõ bản chất vô nhân, lọc lừa và xảo trá của tập đoàn Việt cộng, cho nên những điều sỉ nhục của họ đối với tập thể Người Việt Tị Nạn trở nên trơ trẽn, điều nầy đã gây rất nhiều khó khăn cho đảng Cộng sản Việt Nam khi họ đang ra sức kêu gọi sự đầu tư của các nước Tây phương, vì vậy bọn chúng mới thay đổi thái độ, mở cửa cho những Người Việt tị nạn Cộng sản có cơ hội về thăm quê hương, mục đích để đánh lừa dư luận là họ không có tinh thần thù hận. Sau vài năm mở cửa, bọn chúng nhận thấy được “những người áo gấm về làng” đã mang đến cho họ những số ngoại tệ lớn lao bất ngờ, tạo cơ hội cho họ thi hành những thủ đoạn làm giàu bất chính. Quả đúng vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, những tên Việt cộng lãnh đạo đảng, lãnh đạo công an, tư lịnh quân đội đã cùng nhau chia chác quyền hành, thi nhau tham ô và đã nhanh chóng trở thành những tên trọc phú, mà người ta thường gọi là đại gia hay tư bản đỏ.

Sự làm giàu nhanh chóng của tập đoàn Việt Cộng đã khiến cho một số ký giả Tây phương ngạc nhiên, đặt câu hỏi với tên Việt cộng Tổng Bí Thư đương thời là Lê Khả Phiêu là làm ăn như thế nào mà mau làm giàu đến như thế. Tên Tổng Bí Thư nầy không dám trả lời thẳng câu hỏi mà chỉ nói một câu ngắn ngủi, đại khái là Việt Nam chỉ có những tỷ phú như vậy là còn quá ít cho sự phát triển. Câu nói nầy đã mở đường cho chánh sách tham ô, cho nên, từ đó sự giàu có của những tên Việt cộng có quyền hành đã trở nên phát triển rần rộ và vô tận cho đến ngày nay.

4. Thay đổi ngôn từ và chính sách tẩy não ở hải ngoại: Từ sự làm giàu nhanh chóng nầy, tập đoàn Việt cộng mới nhận chân rằng những Người Việt Tị Nạn Cộng sản ở hải ngoại chính là những con bò sữa mà chúng cần phải tận dụng để khai thác, cho nên từ những lời xỉ vả là xí ke, ma tuý, đĩ điếm, biếng nhác trước kia, nay đổi thành lời hoa mỹ là Khúc Ruột Ngàn Dậm không thể tách rời, v.v… dành cho Người Việt Tị Nạn Cộng sản.

Tuy nhiên, mưu sự không chỉ dừng lại ở chỗ đó, lợi dụng sự bang giao quốc tế và trao đổi mậu dịch, tập đoàn Việt cộng không ngớt tung ra hải ngoại thật nhiều cán bộ tình báo để tuyên truyền, mục đích tẩy não một số người bằng cách đưa ra những miếng mồi quyền lợi và địa vị hảo để chiêu dụ, từ đó mới nẩy sinh ra những tên Việt gian, làm phân hóa và ung thối một số tổ chức, đầu tiên có thể kể là vụ Trần Trường ở Cali, bọn Trịnh Vĩnh Bình ở Hòa Lan, một số báo chí trở cờ ở Mỹ, một bọn làm văn nghệ lật lộng, một nhóm lãnh đạo đê hèn của vài đoàn thể đấu tranh và một bọn trí thức ở rải rác tìm mọi thủ đoạn để gây chia rẽ và lũng đoạn Cộng đồng, đồng thời thi hành nghị quyết 36 dưới chiêu bài hòa hợp, hòa giải với Việt cộng mới vừa chính thức xuất hiện trong thời gian gần đây để có dữ kiện thẩm định thành quả đạt được sau mười năm ban hành nghị quyết nầy.

5. Lý luận của bọn người Quốc gia bị tẩy não: Lý luận của bọn người nầy là chính sách của Việt cộng đã thay đổi thì Người Việt Quốc Gia cũng phải thay đổi cách tranh đấu cho phù hợp với trào lưu. Lý luận ngụy biện nầy biểu lộ một xảo trá nếu không muốn nói là thủ đoạn để lường gạt một số người nhẹ dạ, dễ tin. Thật sự trước mắt là chính sách của Việt cộng không có gì thay đổi cả.

Trước đây, Việt cộng cấm tự do ngôn luận, không cho tự do Tôn Giáo, không để cho dân có quyền làm người theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, cướp nhà, cướp đất, cướp ruộng vườn và tài sản của dân, tham ô, bán nước, v.v…thì ngày nay cũng vẫn y như vậy, sau đây là một vài thí dụ:

Về tự do ngôn luận: Người dân hiện nay vẫn không có quyền ngôn luận như trước, thực tế là những nhà bất đồng chính kiến, các Blogger trong nước đều bị cấm đoán và bị phạt tù với những bản án nặng nề, xảy ra thường xuyên và luôn luôn bị chỉ trích trên các diễn đàn quốc tế.

Không cho tự do Tôn Giáo: Các Tôn Giáo trong nước vẫn đều bị kiểm soát nghiêm nhặt và liên tục bị đàn áp triệt để như trước, đặc biệt đối với Phật Giáo Hòa Hảo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, đến nổi Ủy Ban Tôn Giáo của Quốc Hội Hoà Kỳ đã bao lần và cũng như hiện nay đang yêu cầu chính phủ của họ đưa nước Việt Nam trở lại danh sách (CPC) liệt kê các quốc gia không có tự do Tôn Giáo trên thế giới.

Quyền làm người cũng không được Việt cộng chấp nhận như trước, cho nên đã xảy ra hàng loạt những thỉnh nguyện thư của các giới yêu chuộng nhân quyền trên thế giới, gởi đến Liên Hiệp Quốc, Quốc Hội Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Phương để yêu cầu dùng áp lực buộc Việt cộng phải tôn trọng Nhân Quyền.

Trầm trọng và tệ hại hơn nữa là sự cướp đất, cướp nhà, cướp ruộng vườn và tài sản của dân để khai thác, bán mua trục lợi còn tệ hại hơn trước. Tình trạng đã không giảm thiểu mà ngày càng gia tăng, khiến nẩy sanh ra những đoàn Dân Oan Khiếu Kiện khắp nơi từ Bắc chí Nam mà những lời kêu oan của họ chẳng những không được hồi đáp mà còn bị đàn áp thô bạo, không nương tay, một số người dân không thể chịu đựng nổi nên liều mạng phản ứng tự vệ, chống lại công an, điển hình nhứt là vụ gia đình Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, và mới đây nhứt là ngày 29/4/2014, công an Saigon đàn áp dã man những người Dân Oan Khiếu Kiện. Những sự kiện nầy chỉ thấy xảy ra trong những quốc gia Cộng sản mà trong đó nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một tiêu biểu.

Vấn đề tham ô cũng vậy, ngày càng trầm trọng và xảy ra hàng ngày, bọn quyền thế ngày càng giàu sang trước bao cảnh đói khổ, lầm than của dân tộc, những trường hợp tham ô khổng lồ, ăn cắp của công tại hai đại công ty như Vinaline, Vinashin chỉ là trường hợp bất ngờ được phát giác mà thôi.

Vấn đề bán nước cũng vẫn tiếp tục, chánh thức được phơi bày từ bức Công Hàm của Thủ tướng Việt cộng Phạm Văn Đồng gởi cho Thủ tướng Tàu Chu Ân Lai năm 1958, từ đó mới phát sanh ra những tiếng nói yêu nước của nhân dân chống bá quyền Trung Cộng xăm lăng và bọn Việt cộng lộ diện là những tên thái thú cho Tàu cộng.

Trên đây chỉ là một vài sự kiện cụ thể đã và đang xảy ra trong nước cho chúng ta nhận thấy rõ ràng là chính sách cai trị của bạo quyền Việt cộng từ trước cho đến nay không hề thay đổi, ngày trước như thế nào, bây giờ cũng vẫn y như vậy, có chăng là hình thức hành xử bên ngoài có vẻ tinh vi hơn.

6. Kết luận: Những nhà đấu tranh chống cộng ở hải ngoài từ sau ngày mất nước 30/4/1075, một số người hiện nay đã thay đổi lập trường, không còn nhiệt thành chống Cộng như trước kia nữa, với luận điệu là chánh sách cai trị của Việt cộng đã thay đổi thì họ cũng phải thay đổi cách tranh đấu cho thích hợp với trào lưu qua chiêu bài hòa hợp hòa giải giả hiệu. Lời ngụy biện nầy cho thấy họ là những người, vì nhiều lý do thấp hèn đã để cho bọn cán bộ tình báo Việt cộng nhồi sọ, biến thái không còn là những Người Quốc Gia chân chánh như trước kia nữa, có nghĩa là đã bị tẩy não, phản bội đồng bào và bị người đời sỉ nhục là Việt Gian.

Gọi là chiêu bài hòa hợp hòa giải giả hiệu thật không ngoa chút nào vì những Việt gian nầy lấy hậu thuẫn và tư cách gì để điều đình hòa hợp hòa giải với bạo quyền Việt cộng? Lấy hậu thuẫn và tư cách gì để hợp tác với bạo quyền Việt cộng chống xâm lăng? Ngoài hai bàn tay không và mang tiếng là Việt gian thì thử hỏi họ làm được gì cho chiêu bài hòa hợp hòa giải ? ngoại trừ việc cúi đầu thừa hành chỉ thị của Việt cộng qua trung gian của những tên như Nguyễn Thanh Sơn để làm những trò bung xung phá rối Cộng Đồng hầu được bạo quyền ban phát cho chút hơi hám nào đó. Quyền lợi trước mắt như thế nào thì chưa biết, nhưng thảm cảnh bỏ của chạy lấy người là việc xảy ra bình thường trong xã hội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nhìn những gương thảm hại của những Trần Trường ở Cali, những Trịnh Vĩnh Bình ở Hòa Lan vẫn chưa đủ để sáng hai con mắt hay sao?.

Mang tiếng là Việt gian thì có lẽ không còn nỗi ô nhục nào lớn hơn, người đời phỉ nhổ không chỉ riêng họ mà còn ảnh hưởng đến cả gia đình và con cháu của họ nữa.

Rất may là thành phần Việt gian nầy chỉ có một số ít ỏi, không đáng kể và đã bị đồng bào cùng Cộng đồng sớm vạch mặt chỉ tên.

Thanh Thủy


First former Vietnamese refugee Hieu Van Le to be next governor of South Australia

FAMILY: Lan Le and Hieu Van Le with sons Kim Le, 23, and Don Le, 27
HIEU Van Le’s Australian story began with a month-long journey on a dilapidated wooden boat.

It took him to the modest Pennington migrant hostel and now Adelaide’s most prestigious address — Government House.

Premier Jay Weatherill yesterday announced Mr Le would be South Australia’s next Governor, replacing Rear Admiral Kevin Scarce, whose term expires in August.

Mr Le’s inspirational story is a powerful symbol of triumph over adversity as SA faces an uphill battle to turn the economy around.

Mr Le was among the first wave of “boat people” arriving in Darwin Harbour in 1977 with his wife Lan and about 40 others fleeing a war-ravaged Vietnam. “Very early in the morning, we clumsily hit the Darwin Harbour. We were very nervous because we did not know what kind of treatment we would have,” Mr Le recalled.

“We had experienced violence and aggression from South-East Asian coast guards who had held guns to heads. That was very close to mind.
A young Hieu Van Le with his wife his Lan at the Pennington Hostel in 1977.

“But it turned out there weren't any coast guards. Just a little tinny with two men wearing wide-brim hats, zinc cream over their noses and already their first beer for the day.
A Vietnamese refugee boat similar to the one Hieu Van Le arrived in at Darwin

“They spotted us, came over and raised a stubby as if proposing a toast and said ‘G’day mate, welcome to Australia’.

“That continues to be a typical embodiment of the generosity of Australians.”

Mr Le said that he was honoured and humbled to be appointed Governor. He called Government House a “very intimidating structure” and said it was hard to believe he would call it home.

“As a young boat people refugee, I arrived here 36 years ago with nothing but an invisible suitcase filled with dreams,” he said.

“A dream to live in a peaceful, safe and free country and to live a meaningful and fulfilling life.

A Vietnamese refugee boat similar to the one Hieu Van Le arrived in at Darwin.

“But to be bestowed with the greatest honour and the privilege of holding the vice-regal office is absolutely beyond my wildest dream.

“This appointment, however, says much more about our society than about me. It sends a powerful message affirming our inclusive and egalitarian society.”

Mr Le said that when he arrived in Adelaide, in November, 1977, there were some cultural tensions and negativity surrounding the influx of Vietnamese migrants, but there had been “dramatic” change since.

He said he hoped to use his position to further improve the state’s cultural and business connection with South-East Asia.
Rear Admiral Kevin Scarce, whose term expires in August, with Hieu Van Le

“We all know about the economic (challenge facing SA), we need to put a lot of effort into that and there is a number of areas we can look into,” he said.

“I think there is huge potential for us to continue improving the trade and business connections and cultural exchanges with these countries.”
Premier Jay Weatherill announces
the appointment of Hieu Van Le (L) as next governor
Mr Weatherill said it was a great honour to announce that Mr Le would be the state’s 35th Governor and the first Asian migrant to rise to that position in SA’s history.

“Mr Le has a story of great significance to SA — from arriving as a boat person in 1977, advancing his education, establishing a family, rising through the ranks of business and community leadership, to becoming the Lieutenant Governor of SA,” Mr Weatherill said. “Now, the next chapter in Mr Le’s incredible journey will be written when he is sworn in as Governor of SA in September.’’


Wednesday, June 25, 2014

Biển, Đảo nào của Ta, chủ quyền nào không thay đổi? - Bảo Giang

Biển, Đảo nào của Ta, chủ quyền nào không thay đổi?

Bảo Giang

Vào chiều ngày 18-6-14, tại Hà Nội có một cuộc hội, gọi là họp cấp cao, giữa Việt Nam và Trung cộng. Sau khi đứng nghe Dương khiết Trì, xác định lại lập trường của Trung cộng tại biển đông là không thay đổi và cũng không có ý định thay đổi tiến trình hợp tác song phương toàn diện với đảng và nhà nước Việt cộng. Diễn viên từ phía Việt cộng là Nguyễn phú Trọng, một lão già đầu bạc trắng, mặt xanh như tàu lá, phát biểu như sau:

- Chúng tôi đã nghe và hiểu rõ “chủ trương của Trung quốc về biển đảo là không thay đổi” đã nghe biết “Trung quốc khẳng định coi trọng và chưa bao giờ thay đổi phương châm hữu nghị trong quan hệ với Việt Nam”... Chúng tôi cũng thế”. Khẳng định lập trường về chủ quyền của Việt Nam với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên biển đông là không thay đổi và không thể thay đổi.” (VNExpress)

- Thế nghĩa là gì? Người hỏi lớn tiếng.

- Phát đúng qúa, cương quyết quá, dứt khoát quá! Phía ta có kẻ nói thầm trong cổ.

Mới nghe qua, nhiều người cho rằng lời tuyên bố của Nguyễn phú Trọng là đanh thép. Là cương quyết, là dứt khoát bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa. Và dĩ nhiên, hơn 700 tờ báo đảng và các cơ quan truyền thông, truyền hình của nhà nước CS không bỏ lỡ cơ hội để thi nhau thổi phồng lên làm cho người dân Việt Nam hiểu lầm là như thế.

Trong thực tế, không phải như vậy, và ý của Nguyễn phú Trọng đại diện cho hơn 3 triệu đảng viên Việt cộng cũng không phải là như thế. Trái lại, đó là một câu tuyên bố tồi tệ và rất bi đát. Nó là di căn, là sự công nhận, là sự nhắc lại cái chủ quyền mà công hàm của Phạm văn Đồng đã “ghi nhận và tán thành bản công bố của Trung quốc” lúc trước. Nó không hề mang ý nghĩa là đanh thép là dứt khoát, báo cho Dương khiết Trì biết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt nam. Trái lại, Nó muốn nói toạc ra là: Văn bản của Phạm thủ trưởng còn đây, ông ấy viết ra sao thì nay cũng không có gì thay đổi và không thể thay đổi. Với lời minh xác công khai trước mặt Dương khiết Trì, Trung cộng thì nâng ly hoan hỉ và đưa thêm dàn khoan vào vùng biển đông. Phần Nguyễn phú Trọng có quyền tin tưởng vào sự ổn dịnh cho cái ghế của y thêm một thời gian nữa. Nhưng về phía Việt Nam, tôi cho rằng, Việt Nam coi như đã mất hẳn Trường Sa, Hoàng Sa vào tay Trung cộng rồi, không còn cứu gỡ được nữa. Tại sao lại như thế?

Rất đơn giản. Bởi vì trước mặt của Nguyễn phú Trọng và Dương khiết Trì, một bên đại diện cho Trung cộng, một bên đại diện cho đảng cộng sản VN (Xin lỗi quý đọc giả, tôi rất đau lòng khi phải viết chữ Việt Nam sau cái từ Cộng Sản, nên xin quý đọc giả thông cảm cho tôi dùng hai chữ Việt cộng để gọi tập thể này cho ngắn gọn và bao hàm đúng cái ý nghĩa của chúng đại điện) là hai bản văn chính làm nền cho mọi thương nghị giữa đôi bên là:

a. Một là của Chu ân Lai đề ngày 4 tháng 9-1958 với nội dung chính là công bố chủ quyền của TC trên biển và trên đảo (Declaration on China’s Territorial Sea) như sau: “Bề rộng của lãnh hải Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa sẽ là 12 hải lý và áp dụng tương tự đối với Đài Loan và các đảo chung quanh quần đảo Bành Hổ, quần đảo Trung Sa (Tungsha), Quần đảo Tây Sa (Hsisha), quần đảo Chungsha, quần đảo Nam Sa (Nansha) và các đảo thuộc Trung Quốc”

b. Hai là của Phạm văn Đồng đề ngày14 tháng 9-1958, chính thức công nhận chủ quyền của Trung cộng ở trên những quần đảo do Chu ân Lai ghi trong văn bản của họ bằng một câu văn ngắn gọn, đầy đủ, trọn nghĩa là: ”ghi nhận và tán thành bản công bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận 12 hải lý của trung Quốc”. Như thế là quá đủ, quá rõ ràng, bản văn của Phạm văn Đồng là văn bản chính thức hóa lời tuyên bố của Ung văn Khiêm trưóc đó là “căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung quốc”. Nghĩa là, PV Đồng đã thay mặt nhà nước VNDCCH công khai xác nhận chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung cộng, không phải là của Việt Nam. Nói cách khác, nhà nước VNDCCH qua văn bản này đã tự từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên những phần lãnh thổ và lãnh hải này.

Xét về nguyên tắc, lời tuyên bố của Ung văn Khiêm và cái bản văn của Phạm văn Đồng và của Chu ân Lai không tự nó tạo ra, hay ban cho Trung cộng có chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa theo tính pháo lý. Nó chỉ có khả năng chứng minh rõ ràng cho dân tộc Việt Nam biết đây là một tập đoàn bán nước (bè lũ bán nước, từ ngữ của họ) có chủ đích lợi nhuận của CS mà thôi. Song trong thực tế, Trung cộng đã cậy vào cái xác và dân số đông đảo và bản văn này, lấy thịt đè ngưòi và tạo ra thành phố Tam Sa ở trên hai quần đảo của Việt Nam. Từ đây, Trung cộng còn muốn biến những đảo hoang này thành những nơi có thể “có sự sống tự nhiên hay có lợi ích về kinh tế”, bằng cách đắp thêm đất, sửa chữa, xây dựng những cơ sở, để nó khả dĩ phù hợp với điều kiện của luật biển QT năm 1982 đã quy định cho các quần đảo,và đòi được đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ bờ đất của Hoàng Sa và Trường Sa. Từ bài tính này, Trung cộng đưa đặt giàn khoan HĐ981 vào vùng biển của Hoàng Sa rồi vênh cổ lên tố ngược Việt Nam xâm phạm và quấy rối giàn khoan nằm trong lãnh hải của họ. Tại sao lại có chuyện nghịch lý này?

Trước hết, vì Đảo Lý sơn thuộc Quảng Ngãi và Hoàng Sa cách nhau khoảng 135 hải lý. Theo đó trong vùng tiếp giáp, Trung cộng muốn được chia hai, mỗi bên một nữa, vào khoảng 68-70 hải lý mỗi phía. Nếu tính bằng con số này, thì cái dàn HD981 của Trung cộng đặt trong vùng nước thuộc đặc khu kinh tế Hoàng Sa mà họ nhận là của họ, và Việt cộng cũng đã công nhận như thế vào ngày 14-9-1958 theo bản văn của Phạm văn Đồng. Kế đến, chừng nào cái công hàm của PVĐ chưa bị tiêu hủy, chưa bị vô hiệu hóa thì Trung cộng còn làm tới và Việt cộng không bao giờ dám kiện Trung cộng ra trước toà án quốc tế. Bởi lẽ, họ không thể đi kiện cái hậu quả do chính bản văn của mình đã viết ra. Nếu họ muốn đi kiện thì phải tìm cách tiêu hủy, vô hiệu hóa cái bản văn của PVD trước đã.

Đó là những khó khăn nhà nước Việt cộng không thể bước qua và cũng chính là lý do tại sao tôi viết bài “Việt Nam Cộng Hoà, một giải pháp cho Việt Nam- Biển Đông”. Trong đó, tôi cũng đã đề cập đến sự kiện cái dàn khoan HD 981 sẽ không nằm ở đó lẻ loi một mình. Nhưng sẽ còn nhiều cái khác đến tiép sức với nó và chúng sẽ cắm dàn khoan xuống lòng đất, lòng biển để xẻ thịt mẹ Việt Nam nữa. Và nay, Nguyễn phú Trọng tựa vào hai bản văn ấy để xác định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa là không thay đổi thì nó có nghĩa là NPT dã xác nhận lại cái có của Trung cộng và cái không có chủ quyền của VN trên những vùng lãnh thổ, lãnh hải này. Chuyện như thế, có gì là đanh thép, phản kháng đâu?

Lẽ dĩ nhiên, tôi không cho rằng những kẻ lãnh đạo thuộc tập đoàn bán nước Việt cộng ở Hà Nội hôm nay không nhìn biết điều này, Trái lại, tôi cho rằng họ đã được học tập và quán triệt đường lối chủ trương của Trung cộng không phải chỉ có ở trên biển đông, nhưng còn là ở trên đất liền của Việt Nam nữa. Chủ trương này không phải đến hôm nay mới có. Trái lại, nó đã có từ khi Hồ chí Minh (Hồ tạp Chương) xuất hiện. Đây chính là cái nguyên nhân, là tai hoạ, là điạ ngục, là cái mồ Trung cộng muốn đào ra để chôn vùi Việt Nam. Tiếc rằng VC lại cho đó là 16 chữ vàng và 4 tốt, nên những thành phần lãnh đạo hôm nay chỉ là những kẻ nhai lại và tiếp tục công việc đào cho cái mồ ấy lớn rộng thêm ra mà thôi. Bằng chứng là:

Với Trương tấn Sang, theo Vnexpress, Sang tuyên bố “Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là bất khả xâm phạm”! Quả là cái miệng vô thường. Nói như con vẹt học nói như thế thì đứa trẻ lên năm cũng biết nói. Hỏi thừ xem, chủ quyền ấy là từ đâu đến đâu, bao gồm những vùng lãnh thổ và lãnh hải nào? Nó có bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam không? Nếu có thì tại sao không nêu tên ra trong những tranh chấp? Nếu không thì tại sao và từ bao giờ? Ai, kẻ nào dám loại trừ hai vùng lãnh thổ và lãnh hải ấy ra khỏi chủ quyền của Việt Nam? Nếu Hoàng Sa, Trường Sa bị loại ra khỏi chủ quyền của Việt Nam từ bản văn của PV Đồng theo lệnh của Hồ chí Minh thì những thành phần này sẽ bị xử trí ra sao? Liệu những tên phản quốc, bè lũ bán nưóc này có bị đưa ra xét sử vì câu tuyên bố “lẫy lừng” trên hay không? Hay đây chỉ là tiếng kêu của con vẹt học nói và không có hiểu biết gì?

Đến Nguyễn tấn Dũng cũng không một điều gì khá hơn. Cũng theo VNexpress, một loại báo mạng khá nổi tiếng do Việt cộng điều hành, thì trong cuộc gặp Dương khiết Trì vào sáng ngày 18-6, sau khi nghe Dương khiết Trì bảo vệ lập trường của Trung cộng về biển dông, NT Dũng “yêu cầu Trung quốc rút giàn khoan cùng tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam…” Quả thật, đây là câu nóí nghe ra đầy bóng bẩy, viễn vông và mạnh miệng hơn Trương tấn Sang. Tuy nhiên, thử hỏi xem. Vùng biển nào là vùng biển của Việt Nam mà Dũng định nghĩa? Vùng biển mà Dũng nói đến có bao gồm vùng biển thuộc Hoàng Sa và Trường Sa hay không? Nếu có, tại sao Dũng không hề nhắc đên chữ Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam? Nếu có, tại sao Dũng lại ra lệnh bắt và giam giữ, tù đày những người dân lên tiếng Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam?

Sở dĩ tôi phải nhắc lại câu hỏi này một lần nữa là vì như ở trên tôi đã viết. Đảo Lý Sơn của Quảng Ngãi cách Hoàng Sa vào khoảng 135 hải lý. Theo đó dựa theo luật biển QT vào năm 1982, vùng tiếp giáp này có thể được phân chia ra làm hai, mỗi bên một nửa. Một nửa khoảng 68 hải lý thuộc đặc khu kinh thế của Lý Sơn. Một nửa khác cũng khoảng 68 hải lý thuộc đặc khu kinh tế Hoàng Sa. Theo đó chúng ta sẽ có bài toán như sau:

1. Trường hợp Hoàng Sa và Lý Sơn là của Việt Nam theo lịch sử và được công nhận trong Hội Nghị Quốc Tế tại san Francisco vào năm 1951 thì Trung cộng đã hoàn toàn sai trái khi đặt cái giàn khoan HD981 vào vùng biển của Việt Nam. Quốc tế không để yên và toàn dân Việt Nam sẽ lấy máu xương của mình để bảo vệ tiền đồ do cha ông để lại. Đây chính là việc làm mà quân dân Việt Nam Cộng Hoà đã làm khi Trung cộng lấn chiếm Trường Sa vàog năm 1974. Công cuộc chiến đấu tuy gặp thất bại, nhưng đó chính là danh tính của những anh hùng bảo vệ chủ quyền truyền đời và vĩnh viễn trên lãnh thổ và lãnh hải của dân tộc Việt Nam.

2. Tuy nhiên, cái nhìn từ lịch sử và thực tế sinh hoạt cũng như theo hội nghị San Francisco bảo quản Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam đã bị tập đoàn Việt cộng bán nước làm cho thay đồi trái chiều bằng cái công hàm của Phạm văn Đồng ký theo lệnh của Hồ chí Minh vào ngày 14-9-1958. Bản văn này đã đưa ra một dấu mốc khác, hoàn toàn trái ngược với dòng lịch sử của Việt Nam và của hội nghị QT san Francisco. Cộng sản đã công nhận chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ của Hoàng Sa và Trưòng Sa thuộc về Trung cộng. Từ cái văn bản này, tập đoàn cộng sản đã trở thành bè lũ bán nước. Họ không còn tư cách để tranh cãi với Trung cộng về chủ quyền trên Hoàng Sa và Truòng Sa nữa.

3. Rồi từ cái văn bản này, nó trở thành bằng cớ cho một kẻ to bụng tham lam, muốn nuốt trửng cả biển đông, nên họ đã tự vẽ ra cái đuờng luỡi bò. Và từ đó, có thêm bằng chứng để chứng thực Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung cộng. Vì chính đối tác quan trọng nhất trong cuộc tranh chấp, nếu có, là Việt Nam cũng đã nhìn nhận như vậy.

4. Bằng vào cái nhìn chia cắt này, Trung cộng tự ban cho mình có chủ quyền trên Hoàng Sa, nên có ý đòi vùng tiếp giáp giữa Lý Sơn và Hoàng Sa là 135 hải lý phải được chia ra làm hai, mỗi bên một nửa. Một khi vùng tiếp giáp được chia ra làm hai thì cái giàn khoan HĐ981 kia còn đặt sâu trong lòng đặc khu kinh tế thuộc phạm vi 68 hải lý của Hoàng Sa, nó không hề lấn qua vị trí của Lý Sơn, thuộc chủ quyền của Việt Nam, nên Việt Nam không thể khiếu nại.

Theo đó, câu nói của Nguyễn tấn Dũng phải được hiểu là điều viễn vông, ấm ớ, và y cũng chẳng biết vùng biển của Việt Nam là vùng nào, ở đâu. Nó trực thuộc Hoàng Sa của Việt Nam trước khi có công hàm của Phạm văn Đồng hay là sau đó? Nếu là trước 1958, thì y là kẻ thừa kế chính thức từ cái nhà nước VNDCCH do PVĐ để lại, Y phải biết xé bỏ cái công hàm kia đi rồi hãy yêu cầu. Trường hợp Y không dám xé bỏ cái công hàm kia đi thì nên im miệng đi thì hơn. Bởi lẽ, đây chính là cốt lõi của vấn đề và Trung cộng bắt nguồn từ cái văn bản ấy, họ đã chứng minh là có chủ quyền theo lịch sử và thực tế ở trên Hoàng Sa, Trường Sa. Đây cũng chính là điểm tựa để Trung cộng cương quyết duy trì chủ trương hội nghị song phương với các bên tranh chấp. Và cũng từ điểm cốt lõi này, họ đặt gian khoan HD981 trong vùng đặc khu kinh tế Hoàng Sa vì tự tin đó là phần lãnh hải của họ. Từ đó, họ có toàn quyền để bảo vệ nó, cũng như đem đến thêm những cái khác nữa..

Thế là ta mất nước rồi! Việt Nam còn nằm trong tay Việt cộng thì Hoàng Sa, Trường Sa sẽ phải nằm trong tay Trung cộng. Nằm vì những kẻ bán nước và nằm vì cứt trâu để lâu hóa bùn, sau này cũng chẳng có ai xét đến nữa. Trừ khi Trung cộng bị vỡ ra thành nhiều mảnh và bè lũ bán nước cũng không còn hiện diện trên đất Việt.

Từ đó, sẽ chẳng lạ gì khi Dương khiết Trì kinh lược đất bắc, Nguyễn phú Trọng, Trương tấn Sang Nguyễn tấn Dũng… và tập đoàn cộng sản bán nưóc không có một lời nào nhắc nhở cho DK Trì biết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam theo lịch sử, thực tế quản lý và theo hội nghị ở San Francisco năm 1951. Trái lại, chỉ thấy quanh co, dối trá, mờ ám, thay nhau tựa vào hai bản văn này để lừa bịp người dân bằng những câu tuyên bố ỡm ờ, vớ vẩn ”xác định lập trường về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, Trưòng Sa là không thay đổi và không thể thay đổi”. Nghĩa là trước đây PVD đã xác định như thế nào thì nay cũng không thay đổi và không thể thay đổi! Nói toạc ra rằng, Nguyễn phú Trọng, Trương tấn Sang, Nguyễn tấn Dũng đã bám vào cái công hàm ấy để tái xác nhận chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung cộng, không phải là của Việt Nam để sống còn. (nếu không sẽ bị loại ra ngoài cho những Hoàng Trung Hải, Uông chung Lưu, Phạm vũ Luận… thế chỗ.) Ngoài ra không có một tư duy, một lối thoát nào khác. Có chăng là một toan tính ỡm ờ để bịp lừa người dân mà thôi. Đó chính là cái bi đát của những kẻ bán nước, nhưng cũng là một thảm họa cho Việt Nam.

Đứng trước cơn quốc nạn hôm nay, tôi cho rằng, đã đến lúc tất cả mọi ngưòi Việt Nam yêu nước, từ vị trí cá nhân hay đứng chung trong các tổ chức dân sự, chính trị, nếu còn nghĩ đến tương lai sinh mệnh của đất nước Việt Nam, phải cùng nhau lên tiếng khẳng định rằng:

1. Chủ quyền về lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam bao gồm đất liền từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau và các biển đảo ngoài khơi, bao gồm quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về dân tộc Việt Nam. Phần lãnh thổ, lãnh hải này không phải là của tập đoàn Việt cộng (CSVN)

2. Phần lãnh thổ, lãnh hải kể trên không thuộc chủ quyền của tập đoàn Việt cộng, nhưng đất nước Việt Nam hiện bị tập đoàn cộng sản chiếm đóng. Theo đó, người dân và các tổ chức dân sự và chính trị của ngườiViệt Nam hoàn toàn bác bỏ, không công nhận bất cứ loại văn bản nào do tập thể này ký kết với ngoại bang nhằm phân rẽ, cắt chia bất cứ một phần lãnh hải, biển đảo hay lãnh thổ nào kể trên ra khỏi chủ quyền của Việt Nam.

3. Vận động, kêu gọi tất cả các quốc gia tây phương, các quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới hãy hỗ trợ cho một chính thể Việt Nam không cộng sản trong công cuộc bảo vệ toàn bộ lãnh thổ và lãnh hải của mình theo Công Pháp Quốc Tế.

4. Sau cùng, kêu gọi toàn thể mọi người Việt Nam hãy sẵn sàng làm cuộc tổng nổi dậy để diệt cộng cúu nước.

Có cương quyết, dứt khoát như thể, chúng ta mới khả dĩ bảo vệ được chủ quyền của đất nước từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau và bảo vệ được toàn bộ lãnh hải bao gồm cả Hoàng Sa Trưòng Sa là của Việt Nam. Mới có cơ hội xây dựng lại một xã hội Việt Nam trong Nhân Bản, Độc Lập và Tự Do.

Bảo Giang



Saturday, June 21, 2014

Học sử mà gặp phải thứ sách khốn nạn như thế thì giữ nước thế chó nào được - Bùi Bảo Trúc

Học sử mà gặp phải thứ sách khốn nạn như thế thì giữ nước thế chó nào được.

Bùi Bảo Trúc


Tại Việt Nam, một cuốn sách nhan đề Vở Luyện Từ và Câu lớp 3, tập 2 vừa bị thu hồi và tạm ngưng phát hành để chỉnh sửa những sai sót trong sách.

Ở trang 5 của cuốn sách vừa kể có một bài viết tay với tuồng chữ rất chân phương và rất đẹp. Nhưng nội dung của đoạn viết tay đó đã để lại những sai sót tầy đình. Đây là nguyên văn đoạn viết tay ấy:

“Quân Nam Hán đưa một đạo quân rất đông sang đánh nước ta. Lý Thường Kiệt dùng kế chôn cọc gỗ đầu bịt sắt nhọn dưới sông Bạch Đằng . Quân Nam Hán đến cửa sông vào lúc thủy triều lên che lấp các cọc nhọn. Lý Thường Kiệt cho thuyền nhẹ bơi ra khiêu chiến , vừa đánh vừa rút lui nhử cho giặc vào nơi quân ta mai phục. Vừa lúc ấy thủy triều xuống quân mai phục hai bên bờ sông đổ ra đánh rất mạnh. Giặc hốt hoảng quay thuyền chạy thì bị va vào cọc thuyền bị thủng đâm hàng loạt. Cuộc xâm lược của dịch hoàn toàn thất bại. Mùa xuân năm 939 Lý Thường Kiệt lên ngôi vua.”

Cuốn sách này được hình thành bởi 5 người, trong đó có một chủ biên, 4 người kia không biết giữ những công việc và trách nhiệm gì.

Nhưng với 5 người như thế mà vẫn để lại những sai sót vô cùng tệ hại thì quả là bọn biên soạn cuốn sách ngu thật.

Bài viết được giao cho một người có chữ viết rất đẹp để viết làm mẫu cho các học sinh tập viết. Phải nói người viết có nét chữ rất đẹp. Nhưng cũng chính vì đó là chữ viết tay, không phải là được sắp chữ, hay đánh bằng máy điện toán nên không thể nói đó là lỗi typo. Người viết chỉ có nhiệm vụ viết, nhưng ít nhất cũng phải có một chút kiến thức về sử để nhìn ra chi tiết lộn Ngô Quyền thành Lý Thường Kiệt. Nhưng người này đã không thấy được sai sót đó. Viết xong chắc chắn bài viết phải được đọc lại để sửa chữa nếu có chi tiết, chữ nào bị viết sai, thiếu nét, đánh dấu lầm… Nhưng rõ ràng là (những) người đọc lại bản viết cũng không nhìn ra được sai sót nên Lý Thường Kiệt mới được trao cho một công việc khác là đánh quân Nam Hán, để cho Ngô Quyền ở không, ngồi chơi sơi nước.

Trong đoạn văn, quân Nam Hán được nhắc tới hai lần. Lý Thường Kiệt được nhắc tên ba lần. Lý Thường Kiệt cũng được trao cho công việc đóng cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, để đánh đoàn chiến thuyền Nam Hán. Việc đó, ai học sử Việt cũng phải biết là việc làm của Ngô Quyền, và sau đó, năm 1288 Hưng Đạo Vương cũng dùng kế đóng cọc nhọn trên sông Bạch Đằng để đánh quân Nguyên.

Lầm Ngô Quyền thành Lý Thường Kiệt mới chỉ là một cái lỗi mà người ta nhìn thấy trong bài viết.

Nhưng thực ra, còn có những lỗi khác nữa thì lại không thấy những độc giả góp ý với tờ Dân Trí nêu ra.

Đó là ở cuối của bài viết, người ta đọc thấy nguyên văn câu này: “Năm 939, Lý Thường Kiệt lên ngôi vua.”

Thực ra thì Ngô Quyền mới là người lên ngôi vua năm 939 tức là năm Kỷ Hợi, đóng đô ở Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. Ngô Quyền chết năm Giáp Thân (944), thọ 47 tuổi.

Lý Thường Kiệt thì không bao giờ đánh quân Nam Hán. Lý Thường Kiệt là người đánh quân Tống và Chiêm Thành (Phá Tống, Bình Chiêm). Ông đánh Chiêm Thành năm 1075 để trừng phạt việc Chiêm Thành đem quân sang quấy phá Việt Nam. Sau khi đánh Chiêm Thành xong, Lý Thường Kiệt mới quay sang đánh quân Tống.

Đến năm Quí Mùi (1103) ở Diễn Châu có Lý Giác làm phản. Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh Lý Giác. Lý Giác chạy sang Chiêm Thành, đem vua Chiêm là Chế Ma Na đánh lấy ba châu của Việt Nam. Năm 1104, Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành. Chế Ma Na thua chạy, xin trả lại đất cho Việt Nam.

Lúc ấy, Lý Thường Kiệt đã 70 tuổi. Một năm sau khi đánh Chiêm Thành (năm 1105), Lý Thường Kiệt mất, hưởng thọ 71 tuổi. Đó là dưới triều vua Lý Nhân Tông. Lý Thường Kiệt là tướng tài, không lên ngôi vua ngày nào.

Lộn Ngô Quyền thành Lý Thường Kiệt là một chuyện. Lộn quân Tống thành quân Nam Hán là chuyện thứ hai. Kế hoạch đóng cọc nhọn trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền thì trao cho Lý Thường Kiệt là sai lầm thứ ba.

Lý Thường Kiệt sinh năm 1034, chết năm 1105 thì viết khơi khơi là năm 939, tức là trước khi Lý Thường Kiệt ra đời tới 95 năm, Lý Thường Kiệt đã lên ngôi vua.

Than ôi, một đoạn viết ngắn có 13 dòng viết tay mà để lại một đống lỗi như thế thì dậy dỗ cái con chó gì.

Mẹ kiếp viết lịch sử láo toét như thế, lại bao nhiêu người không nhìn ra những sai sót đó cho nên học sinh mới quá chán học môn sử (như tờ Giáo Dục Việt Nam đã viết hồi tháng trước) là như vậy.

Học sinh học tới lớp 5, sống lù lù ngay ở Hà Nội, mà không biết thủ đô của Việt Nam là gì thì cũng là do mấy thứ ngu dốt đó dậy dỗ.

Đã dốt như thế, lại còn dở trò bóp méo, xuyên tạc lịch sử thì mới có cái thứ chó cái như con nhãi Lê Phong Lan làm loạt phim về Mậu Thân và đổ hết tội cho Hoa kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã giết mấy ngàn người ở Huế.

Mẹ kiếp con nhãi con xuyên tạc lịch sử để tẩy rửa cho các tội ác của Việt Cộng thì cũng hiểu được. Nhưng cướp công của Lý Thường Kiệt từ tay Ngô Quyền và cho Lý Thường Kiệt lên ngôi vua để … nói xấu tổng thống Ngô Đình Diệm (?) vì cùng họ với Ngô Quyền hay sao?

Mà rồi cả đống trong nước cũng không thấy được những sai lầm láo toét như thế nên đất nước mới là không khá được.

Giá chịu khó đọc vài trang trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim từ trang 68 đến trang 107 cũng thấy ngay là Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, không phải Lý Thường Kiệt chư sao mà lại nhắm mắt nhắm mũi viết bậy như thế! Nhà nước thì mấy tháng sau mới quyết định thu hồi lệnh thu hồi cũng nói là “tạm”. Tại sao lại “tạm thu hồi” mà không đốt cha nó cái đống sách mả mẹ ấy đi cho sạch cái … mình?

Tôi chắc giờ học sử của các em không bao giờ có cảnh như thế này:

"Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử
Thầy tôi bảo: ”Các em nên nhớ rõ,”
“Nước chúng ta là một nước vinh quang,”
“Bao anh hùng thuở trước của giang san,”
“Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.”

… (Đoàn Văn Cừ)
Chứ học sử mà gặp phải thứ sách khốn nạn như thế thì giữ nước thế chó nào được.

Chuyện vô lý ở cái xứ "đỉnh cao trí tuệ" này thì không ngạc nhiên. Mấy thứ gọi là “lịch sử” gần gần (của đám cháu ngoan hồ già) mà ngày nào đài báo, họp hành cũng ra rả, như mấy thứ này trưng giữa bàn dân thiên hạ mà còn sai:
Bùi Bảo Trúc






Lực lượng chôn vùi CSVN đến từ dân oan

Lực lượng chôn vùi CSVN đến từ dân oan chứ không đến từ trí thức chồn lùi

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên

Cuộc đại Cách Mạng Pháp 1789 đến từ khối quần chúng nghèo khổ, chứ không từ những kiến nghị dâng lên vua chúa và hàng giáo sĩ thời đo do giới trí thức luật sư quen với điều trần và kiến nghị. Quần chúng nghèo đói trước cảnh phung phí ăn chơi của vua chúa và hàng giáo sĩ đã tạo một sự uất hận cao độ trong lòng dân. Một cô bé 16 tuổi cầm chiếc thanh la gõ “phèng phèng !” rồi cô ta chỉ kêu rống lên mấy tiếng: ”Tôi đói, cho tôi mẩu bánh mì để ăn !”, thế là cuộc đại Cách Mạng 1789 bùng nổ không những cho nước Pháp mà còn lan tràn sang những nước khác. Cuộc Cách Mạng vô sản 1917 ở Nga cũng đến từ khối nông dân và công nhân cực nhọc nghèo khổ mà Lénine biết lợi dụng.

Đã hơn 6 năm trường nay, tôi kêu gọi tầng lớp trí thức hãy đi với giới Dân Oan bị tước đoạt đến cùng cực để tổ chức Lực Lượng ấy thành một nền tảng thực tế NỔI DẬY làm CÁCH MẠNG. Nhưng giới trí thức dường như trốn tránh vì còn có miếng ăn mà trở thành sợ sệt, thụt lùi.

Ngày nay đất nước lâm nguy, trí thức không thể kéo dài thời gian với bầy vẽ ra những Xã hội Dân sự làm kiểng với lèo tèo ít người hữu danh vô thực, phải mất hàng chục năm trường mới có được nhân sự nhập vào.

Khối Dân Oan là một Xã hội Dân sự thực tế, đã có sẵn, có đầy lòng can đảm không còn sợ mất mát gì vì họ đã mất hết rồi. Khối DÂN OAN này không phải chỉ gồm những người mất đất, nhà, mà còn gồm khối NÔNG DÂN OAN đang bị mất ruộng đồng, CÔNG NHÂN OAN đang bị tư bản nước ngoài cấu kết với độc tài bóc lột sức lao động và sắp tới NGƯ DÂN OAN khi CSVN bán biển cho Tầu để họ không còn nơi đánh cá sinh sống nữa.

Cách đây chừng 3 tuần, chúng tôi tham dự cuộc Hội Luận trên một Diễn Đàn Paltalk mà Diễn giả là nhà văn Trần Phong Vũ. Giữa lúc Dân Oan và Nhân Công NỔI DẬY và bị một số Trí ngủ, Trí thức chồn lùi tại Quốc nội mạ lỵ là "bạo loạn" và tà quyền CSVN thẳng tay đàn áp, thì nhà văn Trần Phong Vũ tại California cũng hùa theo tuyên bố những điểm chính sau đây:
    * Phải đấu tranh bất bạo động theo kiểu "trí thức" hay theo kiểu Việt Tân đã từng hô hào trên Radio CHÂN TRỜI MỚI nhiều năm nay mà Ts.Nguyễn Quang A tại Quốc nội lên mặt dậy dỗ, thiếu điều như mắng chửi những người đói nghèo, khổ cực như Dân Oan và Nhân Công đứng lên đòi quyền sống.
    * Theo nhà văn Trần Phong Vũ tiên đoán, thì chính những Tổ chức Xã hội Dân sự mới được nhen nhún lên từ một nhóm Trí ngủ, Trí thức chồn lùi tại Quốc nội sẽ là Lực lượng giải quyết quyền lực độc tài CSVN tại Quê Hương.
Tôi thở dài ngán ngẩm đối với những nhận định của một Gíao sư Trí thức tỵ nạn tại Hải ngoại. Thực vậy phải đợi bao chục năm nữa để những Tổ chức Xã hội Dân sự lớn mạnh và có đủ lực lật nhào CSVN. Đã những chục năm trường rồi, những Trí ngủ, Trí thức quốc nội đã dùng khí giới Kiến Nghị, Thỉnh Nguyện dâng lên những "Ngài" Lãnh đạo đầu trâu mặt ngựa xin hãy ban phát Tự do Dân chủ cho dân chúng. Những "Ngài" ấy mặt dầy mày dạn đã thẩy ngay những Kiến Nghị, Thỉnh Nguyện vào sọt rác. Buồn quá, một số Trí thức đã nằm ngủ mà chúng tôi gọi là Trí ngủ. Một số khác chưa ngủ và còn thức mà chúng tôi gọi là Trí thức và thêm hai chữ "chồn lùi" vì thấy những Trí thức này nhát như thỏ đế, chưa xuống đường đấu tranh mà đã hô hoán "thanh minh thanh nga" rằng thưa "Ngài" Nguyễn Tấn Dũng đừng cho Công an đánh chúng tôi vì chúng tôi bất bạo động, ngay cả lúc Công an bạo động đập bể mặt chúng tôi, chúng tôi cũng ngồi yên bất bạo động để Công an của "Ngài Thủ tướng" tha hồ đánh đập !

Nếu nhát như thỏ đế và chồn lùi, rồi bất bạo động, không dám tự vệ và để mặc kệ cho bạo lực Công an đánh đập mình, thì chúng tôi cũng chẳng thèm nói đến họ làm gì. Nhưng nhắc đến đám chồn lùi này chỉ vì chúng tôi thấy họ mượn danh bằng cấp "Trí thức" để lên mặt răn đe, dậy dỗ quần chúng đang uất hận và đứng lên khiến tà quyền CSVN mượn thế càng đàn áp quần chúng nữa. Quần chúng này là số đông dân chúng nghèo khổ, những người Dân Oan và Công Nhân. Đây mới là LỰC LƯỢNG chính yếu để CHÔN VÙI Cơ chế CSVN hiện hành. Tác giả NGUYỄN NGỌC GIÀ đã thẳng thắn chỉ giáo nặng nề cho Ts NGUYỄN QUANG A về điểm lên mặt dậy đời này !

Phải CHÔN VÙI TRỌN CÁI CƠ CHỀ CSVN đã làm cho Xã hội tha hoá đến thác loạn, đã làm phá sản Kinh tế Quốc dân đến vực thẳm nghèo đói. Phải chôn vùi CSVN càng sớm càng hay để thăng hóa Xã hội và phát triển Kinh tế. Không thể mơ mộng giải thể CSVN bằng những Tổ chức Xã hội Dân sự của những Trí ngủ, Trí thức trong 39 năm nữa !!!

Giáo sư Tiến sĩ Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên, Kinh tế